You are here: Home » Tin Tức » Bảo lãnh ngân hàng là gì? Những lợi ích sẽ mang lại cho khách hàng

Bảo lãnh ngân hàng là gì? Những lợi ích sẽ mang lại cho khách hàng

Bảo lãnh ngân hàng là gì? Những lợi ích sẽ mang lại cho khách hàng
5 (100%) 2 votes

1. Bảo lãnh ngân hàng là gì?

Theo pháp luật Mỹ, bão lãnh ngân hàng được hiểu là thoã thuận trong đó người bão lãnh đồng ý sẽ thực hiệm nghĩa vụ trả nợ của bên  nợ khi bên nợ không trả nợ; bảo lãnh là việc bên hứa thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ.

Theo pháp luật Trung quốc, bảo lãnh ngân hàng được hiểu là hành vi mà căn cứ vào thoã thuận bảo lãnh và chủ nợ, người bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc chịu trách nhiệm trước con nợ nếu con nợ không trả được nợ.

Theo pháp luật Dân sự nước ta, bảo lãnh ngân hàng được hiểu là: ” bảo lãnh là việc người thứ ba ( sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền( sai đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiệm nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây được gọi là bên được bão lãnh ), nếu khi đến thờ hạn mà bên được bão lãnh không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ.”

Như vậy,bảo lãnh ngân hàng chính là việc ngân hàng cam kết sẽ thanh toán cho bên thụ hưởng của hợp đồng khoản đền bụ trong phạm vi của số tiền được nêu rõ trong giấy bảo lãnh nếu bên đối tác không thực hiện được trách nhiệm của mình trong hợp đồng.Ngân hàng không bảo lãnh việc bên đối tác có thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của mình cho bên thụ hưởng hay không mà chỉ đảm bảo sự thanh toán trong phạm vi số tiền trong giấy bảo lãnh. Bảo lãnh ngân hàng là sự đảm bảo cho bên thụ hưởng trong trường hợp nếu những hoạt động được chỉ rõ trong hợp đồng không được thực hiện vì bất kỳ lí do nào thì bên thụ hưởng sẽ được quyền hưởng tiền đền bù.

Có thể xem thêm:

Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả cho vay

Lợi thế cạnh tranh

Thuyết trình là gì

2. Bảo lãnh ngân hàng sẽ mang lại cho khách hàng những lợi ích gì?

  • Giảm thiểu rủi ro không đáng có nhất.
  • Khách hàng không phải thanh toán ngay cho bên đối tác vì đã có bảo lãnh của ngân hàng do đó có cơ hội trì hoãn việc thanh toán và làm tăng tài sản lưu thông hiện có.

Bạn đang cần sự đảm bảo cho việc thực thi những nghĩa vụ của mình đối với các bạn hàng? Xin mời bạn hãy xem  những nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng sau đây:

a) Bảo lãnh dự thầu:

Mục đích của bảo lãnh dự thầu là sự đảm bảo của ngân hàng về sự bồi thường trong phạm vi số tiền trong giấy bảo lãnh nếu bên đề nghị bảo lãnh từ chối ký kết hợp đồng mà đã trúng thầu, rút tiền dự thầu trước ngày quy định hoặc không có khả năng chứng tỏ đảm bảo làm việc cho nhà thầu sau khi hợp đồng ký kết.

b) Bảo lãnh bảo hành :

Là sự bảo đảm bồi hoàn cho người thụ hưởng bảo lãnh nếu có bất kỳ nhược điểm nào trong vận chuyển hàng hóa, xây dựng..v.v…hoặc bên đối tác không bảo dưỡng máy móc vì bất kỳ lí do nào. Số tiền bảo lãnh phải được đồng ý trong hợp đồng và ngày hết hạn phụ thuộc vào phạm vi hoạt động, mục đích bảo lãnh..v.v…

c) Bảo lãnh thực hiện hợp đồng:

Là sự bảo đảm bồi hoàn cho người thụ hưởng bảo lãnh trong trường hợp nếu bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ của mình trong hợp đồng (ví dụ: cung cấp dịch vụ, hiệu suất làm việc..v.v..) số tiền trong bảo lãnh thực hiện hợp đồng phải được sự đồng ý của các bên.

 

d) Bảo lãnh thanh toán:

Mục đích là giảm thiểu rủi ro về thanh toán tiền hàng cho người bán hàng/xuất khẩu. Vì lí do này, bảo lãnh thanh toán sẽ là sự đảm bảo thanh toán số hàng hóa cho người bán hàng/xuất khẩu nếu người mua không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn. Số tiền bảo lãnh thanh toán thường chính là giá trị hàng hóa và số phí phải trả cho số ngày kéo dài thêm vì đòi bồi thường.

e) Bảo lãnh nhận hàng:

  • Bảo lãnh nhận hàng tạo điều kiện cho khách hàng có thể lấy hàng trước khi nhận được bộ chứng từ vận chuyển và cho bất kỳ một lí do nào khác như thay thế vận đơn đường biển cũ đã bị thất lạc.
  • Bảo lãnh nhận hàng thường được phát hành kèm với Thư tín dụng.
  • Bảo lãnh nhận hàng là sự bảo đảm từ phía ngân hàng (sau khi đã ký kết với người mua/ nhà nhập khẩu) cho Công ty vận chuyển hoặc Nhà xuất khẩu cho việc giao hàng hóa mà chưa cần xuất trình vận đơn đường biển.

3/ Nguyên nhân hình thành bảo lãnh ngân hàng là gì

Về bản chất, trong giao dịch thương mại, tồn tại 2 chủ thể chính là BÊN BÁNBÊN MUA.

Mối quan hệ trên vẫn diễn ra ổn định, đều đặn và bình thường, cho đến một ngày các chủ đề tham gia đều nhận thấy các vấn đề bất ổn lần lượt phát sinh.

Với bên bán: họ cho rằng rủi ro nằm ở vấn đề sau khi đã giao hàng cho bên mua, vì nhiều lý do, bên mua chậm thanh toán, thậm chí không thực hiện thanh toán => Dẫn đến khả năng mất hàng và mất tiền. Ngoài ra, khả năng nghi ngại bên mua không thực hiện đúng quy định hợp đồng với các điều khoản có liên quan.

Với bên mua: vấn đề phát sinh khi người mua đã thanh toán trước tiền mua hàng (1 phần hay toàn bộ), nhưng người bán không thực hiện giao hàng, không thực hiện đúng quy định hợp đồng => Dẫn đến rủi ro mất tiền và không có hàng để bán.

Thêm nữa, sau khi nhận hàng, sản phẩm phát sinh lỗi, người bán không thực hiện chế độ bảo hành sản phẩm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng đầu ra.

Một điều quan trọng nữa, trường hợp bên mua phải tạm ứng hay đặt cọc trước tiền hàng, được hiểu là, nguồn vốn kinh doanh của bên mua đã bị chiếm dụng bởi các đối tác, ảnh hưởng đến các cơ hội kinh doanh, tham gia đấu thầu, ký kết hợp đồng mới, hay quay vòng vốn.

Như vậy, mỗi chủ thể đều thể hiện sự Lo lắng, Không Tin tưởng đối tác của mình, lo ngại rủi ro bị chiếm dụng vốn hay chiếm đoạt tài sản, nhất là trong các giao dịch ban đầu khi 2 bên đều là đối tác mới, chưa hiểu nhau, không phải là các đối tác truyền thống

Ai cũng muốn đảm bảo Quyền lợi của mình, ai cũng muốn đảm bảo và rào chắn rủi ro cho mình, ai cũng muốn mình An toàn và Có lợi, chính vì vậy, hình thành 1 bên thứ 3 với vai trò mà tôi vẫn thường nói vui là BẢO KÊ, và bảo kê cũng chính là khái niệm cơ bản, đơn giản nhất của thuật ngữ Bảo lãnh Ngân hàng.

Qua đó, được hiểu 1 trong 2 bên phải có 1 đơn vị Bảo lãnh đứng sau lưng, với vai trò nếu 1 trong 2 bên không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, đơn vị Bảo lãnh sẽ thay thế và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ còn thiếu với bên còn lại.

Và tổng quan nhất, khái niệm Bảo lãnh được hình thành từ sự LO LẮNG, SỢ HÃI VÀ KHÔNG TIN TƯỞNG NHAU

Lo lắng, Sợ hãi, Thiếu Tin tưởng chính là mấu chốt cho sự ra đời của Bảo lãnh!

4. Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng:

Về thực chất, bảo lãnh là lời hứa thanh toán của ngân hàng với người được yêu cầu bảo lãnh khi người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bảo lãnh là một công cụ bảo đảm, chứ không phải là công cụ thanh toán. Nghiên cứu đặc điểm của bảo lãnh cho chúng ta cơ sở phân biệt giữa bảo lãnh với công cụ thanh toán và bảo đảm khác như thư tín dụng, bảo hiểm…

Bảo lãnh ngân hàng có các đặc điểm sau:

Bảo lãnh là một mối quan hệ nhiều bên, phụ thuộc lẫn nhau:

Khi đồng ý bảo lãnh ngân hàng phát hành thư bảo lãnh. Thư bảo lãnh là một hợp đồng giữa hai bên thường là giữa ngân hàng và người thụ hưởng. Hợp đồng này độc lập trong mối quan hệ với hợp đồng cơ sở. Tuy nhiên để hiểu cơ chế của công cụ này cần thiết phải hiểu rằng bảo lãnh không chỉ là mối quan hệ giữa hai bên mà là một quan hệ tạo thành trong mối quan hệ nhiều bên bao gồm cả:

– Mối quan hệ hợp đồng giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng .

– Mối quan hệ hợp đồng giữa người được bảo lãnh và ngân hàng.

Hợp đồng bảo lãnh sẽ không thể tồn tại nếu không có mối quan hệ trên. Dù có sự phân chia, ba mối quan hệ này liên hệ lẫn nhau và có ảnh hưởng đến nhau.

Tính độc lập:

Một đặc tính hết sức quan trọng của bảo lãnh ngân hàng là tính độc lập với hợp đồng. Mặc dù mục đích của một bảo lãnh ngân hàng là bồi hoàn toàn cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh nhưng việc thanh toán một bảo lãnh chỉ căn cứ vào các điều khoản hoàn toàn. Bảo lãnh vô điều kiện tạo nên sự khác biệt với các hình thức bảo chứng cổ điển và các hình thức bảo lãnh kèm theo chứng từ.Ngược lại nếu là bảo lãnh có điều kiện hay bảo lãnh có kèm theo chứng từ như phán quyết của toà án, quyết định của trọng tài, xác nhận của bên thứ ba về sự vi phạm của người được bảo lãnh thì tính độc lập của bảo lãnh ít nhiều bị giảm sút.

Tính độc lập còn thể hiện trong trách nhiệm thanh toán của ngân hàng phát hành. Trách nhiệm này hoàn toàn độc lập với mối quan hệ giữa ngân hàng và người được bảo lãnh.Ngân hàng không được viện các lý do như: Người được bảo lãnh bị phá sản, vẫn còn nợ ngân hàng… để từ chối thanh toán .

Về tính độc lập này trong điều 2 của quy tắc thống nhất về bảo lãnh yêu cầu UCP 845 của ICC có giải thích “về bản chất bảo lãnh là giao dịch tách rời khỏi hợp đồng cơ sở hay các diều kiện dự thầu mà bảo lãnh lấy làm căn cứ và bên bên bảo lãnh không hề quan tâm hay bị ràng buộc bởi hợp đồng hay các điều kiện dự thầu đó, dù có trích tham chiếu đến chúng trong bảo lãnh. Trách nhiệm của bên bảo lãnh theo như bên bảo lãnh là trả lại số tiênd được quy địmh đó khi xuất trình yêu câù thanh toán bằng các văn bản và các chứng từ khác quy định trong bảo lãnh mà hình thức phù hợp vơí các quy định của bảo lãnh. “

Với ngân hàng quy tắc độc lập này cũng có thuận lợi. Khi người thụ hưởng có yêu cầu đòi tiền theo htư bảo lãnh, ngân hàng chỉ có trách nhiệm xem xét, kiểm tra xem những điều khoản, điều kiện của thư bảo lãh có được thoả mãn hay không. Nhiệm vụ này được thực hiện khá dễ dàng. Do vậy ngân hàng không liên quan đến quyền nhghĩa vụ các bên ttrong hợp đồng cơ sở và không liên quan tới tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cơ sở giữa hai bên.

Tuy nhiên tính chất độc lập của bảo lãnh cũng làm tăng rủi do phải thanh toán hộ khi có sự không trung thực cuar bên yêu cầu bảo lãnh.

Nhưng cần nhớ rằng tính độc lập của bảo lãnh cũng phụ thuộc vào các điều kiện của bảo lãnh, nó là loại bảo lãnh vô điều kiện hay bảo lãnh có điều kiện (xem định nghĩa phần hai). Nếu là bảo lãnh vô điều kiện, việc thanh toán được thực hiện theo yêu cầu đầu tiên, tính độc lập được bảo đảm.

5. Chức năng của bảo lãnh ngân hàng:

Chức năng bảo đảm:

Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh ngân hàng. Theo chức năng này người thụ hưởng sẽ được hưởng một khoản bồi thường về tài chính nếu người được bảo lãnh vi phạm cam kết. Nhưng khả năng xảy ra nghĩa vụ bồi thường của ngân hàng là rất nhỏ. Theo thống kê của các nhà ngân hàng Mỹ thì chỉ 1% trên tổng số bảo lãnh phát hành ở nước này bị người thụ hưởng yêu cầu thanh toán. Ngoài ra bảo lãnh còn sử dụng cho các thoả thuận phi mua bán như dự thầu, thực hiện hợp đồng… Do vậy bảo lãnh không phải là công cụ thanh toán mà là công cụ bảo đảm.

Chức năng tài trợ:

Để thi công công trình hay thực hiện hợp đồng mua bán có thể phải dùng vốn lớn trong thời gian dài. Người thi công có thể phải yêu cầu từ người chủ công trình một khoản tiền ứng trước. Hoặc trong cuộc đấu thầu, chủ thầu có thể yêu cầu người dự thầu nộp một khoản tiền đặt cọc tham gia đấu thầu. Ngân hàng phát hành bảo lãnh như một công cụ tài trợ làm cho chủ thầu được bảo đảm sẽ ứng trước tiền cho nhà thầu và khi dự thầu, nhà thầu thay việc đặt cọc bằng bảo lãnh của ngân hàng. Xét về mặt này, bảo lãnh ngân hàng mang chức năng tài trợ và điều kiện như được quy định trong thư bảo lãnh và ngân hàng không thể viện cớ những vấn đề phát sinh từ hợp đồng cơ sở để từ chối thanh toán.

Chức năng đôn đốc hoàn thành hợp đồng:

Bảo lãnh cho phép người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán khi người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng cam kết trong suốt thời gian có hiệu lực của bảo lãnh và ngân hàng có quyền đòi lại khoản tiền này.

Người bị bảo lãnh luôn bị một áp lực của việc bồi hoàn toàn bảo lãnh.Do vậy bảo lãnh có vai trò đốc thúc người được bảo lãnh thực hiện hoàn tất hợp đồng đã ký kết. Tuy được bảo đảm sẽ nhận được khoản tiền bồi hoàn nhưng ngay cả người thụ hưởng cũng hoàn toàn không muốn điều này xảy ra. Cái họ muốn là sự hoàn tất xuôn xẻ của hợp đồng. Bảo lãnh mang ý nghĩa ràng buộc đốc thúc người được bảo lãnh thực hiện hợp đồng hơn là việc bồi hoàn.

Ví dụ: trong bảo lãnh dự thầu, chủ thầu yêu cầu bảo lãnh ngân hàng với người dự thầu nhằm bảo đảm bảo họ sẽ không rút bỏ giữa chừng thực hiện hợp đồng khi đã chúng thầu. Họ không mong đợi nhận được bồi hoàn do việc vi phạm như từ chối thực hiện thi công khi chúng thầu vì khi đó họ phải mất thời gian và chi phí để tìm kiếm đối tác khác.

Ba chức năng trên cho thấy tác dụng của bảo lãnh. Nghiên cứu chúng cho phép chúng ta phát huy đầy đủ các chức năng này và vận dụng bảo lãnh có hiệu qủa hơn.

 

6/ Đối tượng tham gia Bảo lãnh

– Thứ 1: Bên bảo lãnh: Là Ngân hàng

– Thứ 2: Bên được bảo lãnh (Bên mất Uy tín): Là KH của ngân hàng, đối tượng phải thực hiện các nghĩa vụ chi trả (gọi chung là KH nhé)

– Thứ 3: Bên nhận bảo lãnh (Bên LO): Là các tổ chức, cá nhân trong & ngoài nước có quyền thụ hưởng các cam kết bảo lãnh của ngân hàng – chính là đối tác của KH (gọi chung là Đối tác nhé)

7/ Quy trình để phát hành bảo lãnh ngân hàng là gì

Quy trình để phát hành bảo lãnh ngân hàng thì phải trải qua 6 bước sau đây:

  • Bước1: KH Ký kết Hợp đồng với Đối tác về việc thanh toán, xây dựng, dự thầu… Bên đối tác yêu cầu phải có bảo lãnh Ngân hàng
  • Bước2: Khách hàng lập và gửi hồ sơ đề nghị bảo lãnh đến Ngân hàng.

Trong hồ sơ áp dụng đối với bảo lãnh gồm:

– Giấy đề nghị bảo lãnh

– Hồ sơ pháp lý

– Hồ sơ mục đích

– Hồ sơ tài chính kinh doanh

– Hồ sơ TSBĐ

  • Bước 3: Ngân hàng tiến hành thẩm định đầy đủ các nội dung như: Tính đầy đủ hợp pháp, khả thi của dự án bảo lãnh; năng lực pháp lý của KH, hình thức bảo đảm; cũng như tình hình tài chính của KH xin bảo lãnh

Nếu đồng ý, NH và khách hàng ký hợp đồng cấp bảo lãnh và thư bảo lãnh.

Hợp đồng cấp bảo lãnh là 1 loại HĐ độc lập với HĐ kinh tế giữa KH và đối tác, nó thể hiện ràng buộc nghĩa vụ tài chính giữa NH và KH. Nội dung cơ bản của Hợp đồng quy định về Số tiền và thời hạn bảo lãnh; các điều khoản vi phạm HĐ Kinh tế của KH dẫn đến nghĩa vụ chi trả của NH cho đối tác; các hình thức bảo lãnh cũng như Phí bảo lãnh, số tiền ký quỹ hay quy định về TSBĐ..

 

  • Bước 4: Ngân hàng thông báo thư bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh.

Thư bảo lãnh quy định rõ ràng các nội dung cơ bản trong HĐ cấp bảo lãnh, tuy nhiên nêu rõ các tài liệu mà bên nhận BL cần có để chứng minh sự vi phạm HĐ của bên được BL, ngoài ra quy định rõ các hình thức chi trả của NH cho bên nhận bảo lãnh như mở thư tín dụng, ký hối phiếu nhân nợ..

=> Hợp đồng cấp bảo lãnh ký giữa NH và KH (bên được Bảo lãnh)

Thư bảo lãnh là văn bản mà NH chuyển qua cho Đối tác (Bên nhận Bảo lãnh)

  • Bước 5: Ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh, nếu nghĩa vụ xảy ra.
  • Bước 6: Ngân hàng yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Ngân hàng (trả nợ gốc, lãi, phí)

Trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ đã được bảo lãnh, ngân hàng tiến hành trả thay và tự động hạch toán nợ vay bắt buộc đối với số tiền trả nợ thay theo LS nợ quá hạn của bên được bảo lạnh. Ngân hàng áp dụng biện pháp cần thiết để thu nợ như phát mại TSBĐ, trích TK của bên được bảo lãnh, khởi kiện…

8/ Phân loại bảo lãnh ngân hàng hiện nay

Có nhiều cách thức phân loại:

– Phân loại theo đối tượng bảo lãnh: sẽ có bảo lãnh trong nước và bảo lãnh ngoài nước

– Phân loại theo hình thức sử dụng: Bảo lãnh vô điều kiện và bảo lãnh có điều kiện

– Phân loại theo phương thức phát hành bảo lãnh: bảo lãnh trực tiếp và bảo lãnh gián tiếp

– Phân loại theo mục đích: bảo lãnh dự thầu => bảo lãnh thực hiện hợp đồng => bảo lãnh tạm ứng => bảo lãnh thanh toán => bảo lãnh bảo hành

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp các dịch vu: viết thuê luận văn thạc sĩ uy tínlàm chuyên đề tốt nghiệp thuê , viet tieu luan … chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *