You are here: Home » Tin Tức » Đặc trưng văn hóa – dân tộc trong thành ngữ so sánh Việt – Anh

Đặc trưng văn hóa – dân tộc trong thành ngữ so sánh Việt – Anh

Đặc trưng văn hóa – dân tộc trong thành ngữ so sánh Việt – Anh. Khái niệm thành ngữ so sánh trong tiếng Việt và thành ngữ so sánh trong tiếng Anh. Tính chất văn hóa dân tộc

Nói về đặc trưng văn hóa – dân tộc trong thành ngữ so sánh Việt – Anh, có thể nhận định một cách tổng quát rằng vốn thành ngữ của tiếng Việt, cũng như của bất kỳ một ngôn ngữ nào khác, là một kho báu lưu giữ những trầm tích văn hóa đặc sắc và pong phú của dân tộc.

1. Thành ngữ so sánh

1.1. Thành ngữ so sánh trong tiếng Việt

1.1.1. Khái niệm

Thành ngữ – đơn vị tương đương với từ – là một hiện tượng phổ biến trong bất cứ ngôn ngữ nào.Việc nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt cũng đã thu hút rất nhiều nhà Việt ngữ học.

Theo “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” (1996): “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu” [80, tr. 271]. Mai Ngọc Chừ thì cho rằng “Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tượng hoặc/và gợi cảm” [11, tr. 153–165]. Như vậy có thể xem thành ngữ là những cụm từ cố định, có chức năng gọi tên sự vật, phản ánh hiện tượng một cách giàu hình ảnh.

Theo Mai Ngọc Chừ, thành ngữ tiếng Việt bao gồm thành ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ. Hoàng Văn Hành phân loại thành ngữ cụ thể hơn: thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng, thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng, thành ngữ so sánh. Chung quy lại, thành ngữ so sánh được xem là một bộ phận cấu thành nên thành ngữ tiếng Việt.

Theo Mai Ngọc Chừ, thành ngữ so sánh là “những thành ngữ có cấu trúc là một cấu trúc so sánh. Ví dụ: lạnh như tiền, rách như tổ đỉa, cưới không bằng lại mặt,…” [11, tr.153-165]. Thành ngữ so sánh được Hoàng Văn Hành trong “Thành ngữ học Tiếng Việt” định nghĩa: “là một tổ hợp từ bền vững, bắt nguồn từ phép so sánh, với nghĩa biểu trưng, kiểu rách như tổ đỉa, khỏe như vâm, như cá nằm trên thớt, nhảy như choi choi,… [30, tr. 97]. Như vậy, thành ngữ so sánh là một cụm từ có tính cố định, hàm chứa một kết cấu so sánh giàu hình ảnh biểu trưng.

1.1.2. Phân loại

Thành ngữ so sánh là một cấu trúc so sánh. Ví dụ: đẹp như tranh vẽ, ăn như hổ, như nước đổ đầu vịt,… Mô hình tổng quát của thành ngữ so sánh giống như cấu trúc so sánh thông thường khác: A ss B: trong đó A là vế được so sánh (chúng tôi tạm gọi là đối tượng được so sánh), B là vế đưa ra để so sánh (chúng tôi tạm gọi là đối tượng so sánh), còn ss là từ so sánh: như, bằng,hơn, tựa, hệt, tày,… Tuy nhiên, sự xuất hiện của thành ngữ so sánh trong thực tế tiếng Việt lại khá đa dạng, trong nhiều trường hợp nó không đủ ba thành phần như mô hình tổng quát trên.

Mai Ngọc Chừ trong “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”(1997) [11, tr. 153–165] đã phân thành ngữ so sánh ra các dạng phổ biến sau:

*A.ss.B: Đây là dạng đầy đủ của thành ngữ so sánh. Ví dụ: đắt như tôm tươi, nhẹ tựa lông hồng, lạnh như tiền, dai như đỉa đói, đủng đỉnh như chĩnh trôi sông, lừ đừ như ông từ vào đền,…

*(A).ss.B: Ở kiểu này, thành phần A của thành ngữ so sánh có thể xuất hiện hoặc không, nhưng nghĩa vẫn không thay đổi, người ta vẫn lĩnh hội ý nghĩa của thành ngữ ở dạng toàn vẹn. Ví dụ: (rẻ) như bèo, (chắc) như đinh đóng cột, (vui) như mở cờ trong bụng, (to) như bồ tuột cạp, (khinh) như rác, (khinh) như mẻ, (chậm) như rùa,…

*ss.B: Ở dạng này, thành phần A không nằm trong cấu trúc của thành ngữ. Khi đi vào hoạt động trong câu nói, thành ngữ kiểu này sẽ được nối thêm với A một cách tuỳ nghi, phụ thuộc vào tình huống giao tiếp, nhưng nhất thiết phải có. A là của câu nói và nằm ngoài thành ngữ. Ví dụ: Ta có thành ngữ “như mẹ chồng với nàng dâu”, tuỳ tình huống mà có A khác nhau, chẳng hạn: ăn ở với nhau như mẹ chồng với nàng dâu, xử sự với nhau như mẹ chồng với nàng dâu, giữ ý giữ tứ với nhau như mẹ chồng với nàng dâu,…

Có thể kể ra một số thành ngữ kiểu này như: như tằm ăn rỗi, như vịt nghe sấm, như con chó ba tiền, như gà mắc tóc, như đỉa phải vôi, như ngậm hột thị,…

1.1.3. Đặc điểm thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ

Trong thành ngữ so sánh, vế A có thể là tính từ chỉ thuộc tính, đặc trưng, tính cách, tâm trạng,… (trắng như tuyết, bẩn như ma lem, nhát như thỏ đế, chậm như rùa, hiền như bụt, lừ đừ như ông từ vào đền,…), hoặc là động từ biểu thị các trạng thái hoạt động (ăn như mèo, nói như đấm vào tai, kêu như cháy nhà,…), hoặc cũng có thể là danh từ chỉ sự vật, hiện tượng được so sánh (chấy rận như sung, kẻ cắp như rươi, quân lệnh như sơn,…), thậm chí có thể là cụm chủ- vị thể hiện một hiện tượng xã hội, tâm lý (quan thấy kiện như kiến thấy mỡ, gái gần hơi trai như thài lài gặp cứt chó,..).

Như vậy, thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ là những thành ngữ có cấu trúc “A ss B”, mà trong đó “A” là tính từ chỉ thuộc tính, đặc điểm, tính cách, tâm trạng,… của con người hay sự vật. Thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ cũng mang những đặc điểm của thành ngữ so sánh nói chung.

Trong thành ngữ so sánh, thành phần biểu thị quan hệ so sánh (ss) và đối tượng so sánh (vế B) là bộ phận bắt buộc và ổn định trên cấu trúc bề mặt cũng như cấu trúc sâu. Nếu phá vỡ cấu trúc so sánh này thì sẽ không còn thành ngữ so sánh nữa. Sự lựa chọn từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh và đối tượng so sánh mang tính dân tộc sâu sắc (Vấn đề này cũng là nội dung trọng tâm của luận văn, sẽ được làm rõ ở những phần tiếp theo).

Vế A (vế được so sánh hay đối tượng được so sánh) trong thành ngữ so sánh là vế bắt buộc trong cấu trúc sâu, nhưng không nhất thiết phải xuất hiện trên cấu trúc bề mặt như ở thành ngữ so sánh có cấu trúc “như B”. Điều này cho thấy khả năng ẩn hiện rất linh hoạt của A trong thành ngữ so sánh tiếng Việt. Riêng trong thành ngữ so sánh có yếu tố tính từ, chúng tôi chỉ xét đến trường hợp vế “A” xuất hiện trên bề mặt cấu trúc.

Từ so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng Việt phổ biến là từ như; ngoài ra còn những từ so sánh khác, chẳng hạn: tựa, tựa như, như thể, bằng, tày, hơn,… ( ví dụ: gương tày liếp, coi trời bằng vung, tội tày đình, cưới không bằng lại mặt,…) nhưng những thành ngữ dùng các từ so sánh này rất hiếm. Từ so sánh phổ biến trong thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ cũng là từ “như”, rất ít khi gặp các trường hợp như: bé bằng con kiến, quý hơn vàng,…

Trong một vài trường hợp, từ so sánh có thể lược bỏ đi mà nghĩa của phát ngôn không phương hại gì. Chính khả năng tiềm ẩn này là tiền đề cho quá trình chuyển hóa thành ngữ so sánh thành những tổ hợp ẩn dụ hóa. Hoàng Văn Hành đã đưa ra vài ví dụ cho trường hợp này: lặng tờ (lặng như tờ), lặng cá (lặng như cá), đen thui (đen như thui), bé hạt tiêu (bé như hạt tiêu),… Ông còn cho rằng: “việc chuyển hóa thành ngữ so sánh sang từ có nghĩa ẩn dụ cũng là một quá trình biến đổi ngữ nghĩa có tính quy luật” [30 , tr.103].

Vế B (đối tượng so sánh) luôn luôn hiện diện, một mặt để thuyết minh, làm rõ cho A, mặt khác, các sự vật, hiện tượng, trạng thái,… được nêu ở B phản ánh khá rõ nét những dấu ấn về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc Việt. Đối chiếu với thành ngữ so sánh của các ngôn ngữ khác, ta dễ thấy sắc thái dân tộc của mỗi ngôn ngữ được thể hiện một phần ở đó. Điều này cắt nghĩa tại sao ít có sự tương đương hoàn toàn giữa các thành ngữ so sánh (cũng như thành ngữ nói chung) ở hai ngôn ngữ. Có khi cách biểu hiện có sự tương đồng về hình ảnh, nhưng giá trị về nội dung lại rất khác nhau. Chẳng hạn, cùng là nóng như lửa, nhưng trong tiếng Việt thì nói về tính tình, còn trong tiếng Anh as hot as fire lại nói về nhiệt độ.

Vế B trong thành ngữ so sánh nói chung và thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ nói riêng có cấu trúc không thuần nhất:

-B có thể là một danh từ (hoặc cụm danh từ). Ví dụ: nhát như thỏ, nóng như lửa, lạnh như tiền, nợ như chúa Chổm, đắng như bồ hòn, len lét như rắn mùng năm,…

-B có thể là một động từ (hoặc cụm động). Ví dụ: giống như in, nóng như đốt, dễ như trở bàn tay, nóng như hơ lửa,…

-B có thể là một cụm chủ- vị (một mệnh đề). Ví dụ: lừ đừ như ông từ vào đền, vênh váo như bố vợ phải đấm, sợ như đĩ thấy cha, tất tưởi như nợ đuổi sau lưng,…

Nếu cấu trúc so sánh thông thường rất đa dạng thì thành ngữ so sánh ít biến dạng hơn. Lí do chính ở chỗ thành ngữ so sánh là cụm từ cố định, chúng phải chặt chẽ và bền vững về mặt cấu trúc và ý nghĩa.

1.2. Thành ngữ so sánh trong tiếng Anh (simile)

1.2.1. Khái niệm

Loại ngữ cố định tiếng Anh có kết cấu và chức năng tương đương với thành ngữ so sánh tiếng Việt được gọi là “simile”. Chúng tôi tạm gọi “simile” là thành ngữ so sánh tiếng Anh. Trong ngôn ngữ học Anh-Mỹ, vẫn còn quan điểm chưa thống nhất về simile và idiom (thành ngữ). Bên cạnh quan điểm của nhiều nhà ngôn ngữ học cho simile là một bộ phận đặc biệt của idiom, có quan điểm khác cho hai khái niệm này không bao hàm nhau, simile là một dạng lời nói giàu hình ảnh, mang nét riêng về cấu tạo cũng như chức năng, tồn tại độc lập bên cạnh idiom (thành ngữ) hay metaphor (ẩn dụ). Do đó nhiều người Anh-Mỹ có sự phân biệt khá rõ ràng về simile (tạm gọi là thành ngữ so sánh) và idiom (thành ngữ).

  1. Seidl và W. McMordie trong “English idioms” đưa ra định nghĩa về idiom (thành ngữ): “là một nhóm từ mà khi kết hợp với nhau sẽ có nghĩa khác với nghĩa của từng từ” (a number of words which, when taken together, have a different meaning from the individual meanings of each word) [87, tr.13].

Từ điển “Webster’s New World College Dictionary” (2010) định nghĩa về idiom như sau: “là một cụm từ được nhận biết như một đơn vị trong một ngôn ngữ, có nghĩa khác với ngữ nghĩa thông thường hoặc khác với tập hợp nghĩa đen của các từ tạo thành” (a phrase, construction, or expression that is recognized as a unit in the usage of a given language and either differs from the usual syntactic patterns or has a meaning that differs from the literal meaning of its parts taken together) [96].

Về simile, có sự thống nhất cao trong các khái niệm của các nhà ngôn ngữ vì đây là một hiện tượng rõ ràng và khá đơn giản. Theo từ điển “Webster’s New World College Dictionary” (2010), simile được định nghĩa là: “một hình thái lời nói trong đó một đối tượng được liên kết với một đối tượng khác biệt khác bằng cách dùng từ nối “like” hoặc “as” (a figure of speech in which one thing is likened to another, dissimilar thing by the use of “like”, “as”).

Từ điển “Oxford Advanced Learner’s Dictionary” (2005) định nghĩa simile là: “là một từ hoặc cụm từ trong đó vật này được so sánh với vật khác, dùng những từ như like hoặc as, ví dụ as white as snow (trắng như tuyết)” (a word or a phrase that compares something to something else, using the words like or as, for example as white as snow) [90, tr.1369].

Theo “The American Heritage College Dictionary”, thành ngữ so sánh Anh (simile) được định nghĩa là: “một dạng thức của lời nói mà trong đó hai vật không giống nhau lại được so sánh hiển minh với nhau, thường đi với “like” hoặc “as” (a figure of speech in which two essentially unlike things are explicitly compared, usually by means of like or as) [83, tr. 1270].

Như vậy thành ngữ tiếng Anh (idiom) được hiểu là một nhóm từ cố định có nghĩa khác với nét nghĩa tổng hợp của từng từ trong nhóm. Khác với idiom, simile thường được hiểu dựa trên sự tổng hợp nghĩa của các từ trong nhóm, nên kết cấu ngữ nghĩa của một simile thường đơn giản và rõ ràng hơn một idiom thông thường. Mặt khác, simile có một cấu trúc so sánh rất đặc trưng với sự tham gia của hai liên từ “as” và “like”. Chẳng hạn: sleep as a log (ngủ như một khúc gỗ), like a bird (tự do như chim), as busy as a beaver (bận rộn như con hải li), as red as a beetroot (đỏ như củ cải đường),… Simile (thành ngữ so sánh Anh) được dùng để nhấn mạnh và tạo hình ảnh sinh động cho việc miêu tả.

Về bản chất, simile tương đương với khái niệm thành ngữ so sánh tiếng Việt. Nếu từ so sánh “như” là phương tiện nhận diện một thành ngữ so sánh trong tiếng Việt thì “as” và “like” là hai dấu hiệu để nhận ra một simile (thành ngữ so sánh trong tiếng Anh).

1.2.2. Phân loại

Có hai dạng thành ngữ so sánh trong tiếng Anh: thành ngữ so sánh với “as” (As-simile) và thành ngữ so sánh với “like” (Like-simile).

Thành ngữ so sánh với “as” (As-simile)

Thành ngữ so sánh với “as” có cấu trúc phổ biến như sau:

(AS) + tính từ + AS + đối tượng so sánh

Ví dụ: His skin was as cold as ice (Da hắn ta lạnh như đá). (Oxford dictionary)

Một vài thành ngữ khác thuộc dạng này: (as) hot as fire, (as) fresh as a daisy, (as) safe as houses, (as) happy as a clam, (as) hard as nails…

Cũng cần chú ý rằng trong mẫu cấu trúc “As…as…” , đôi khi chữ “as” đầu được lược bỏ.

Có một dạng thành ngữ so sánh tiếng Anh với “As” mà vế làm đối tượng so sánh được mặc định bởi những từ “anything”, “hell”, “you please” như các cấu trúc sau đây:

(as) + tính từ+ as Anything

(as) + tính từ+ as Hell

(as) + tính từ+ as You please

Ví dụ: I felt as pleased as anything (Tôi cảm thấy rất hài lòng) (Oxford dictionary)

Trong những thành ngữ so sánh kiểu này, các yếu tố theo sau AS thứ hai chỉ làm trợ từ để nhấn mạnh. Nói cách khác không có mối tương quan giữa tính từ với vế để so sánh (ngoại trừ trường hợp as hot as hell (nóng như địa ngục), giữa “hot” và “hell” có mối quan hệ ngữ nghĩa với nhau vì địa ngục là nơi đày ải, nơi dùng nhiều cực hình liên quan tới lửa để trừng trị kẻ xấu, nên trường hợp này không được tính vào loại trên).

Thành ngữ so sánh với “like” (Like-simile)

Một số ví dụ cho thành ngữ so sánh với “like”: like a wind (như gió), like an oven (như cái lò nướng), like a rat in a hole ( như chuột trong hang), like a house on fire (như ngựa trên lửa),like smoke (như khói), like water off a duck’s back (nhu nuoc do dau vit), like blazes (như lửa),…

Thành ngữ so sánh với “like” có hai dạng sau:

*is + LIKE + đối tượng so sánh

Ví dụ: My love is like a red rose. (Tình yêu của tôi giống như hoa hồng đỏ)

*động từ + LIKE + đối tượng so sánh

Ví dụ: He eats like a pig (Cậu ta ăn như lợn).

Trong dạng thành ngữ có cấu trúc “as…as…”, ta thấy thuộc tính, đặc trưng được so sánh ở sự vật hiện ra rất rõ ràng. Nhưng trong cấu trúc “like…”, thuộc tính được so sánh nằm ở bề sâu ngữ nghĩa của thành ngữ, được hiểu dựa trên sự phán đoán.

Trong các dạng thành ngữ so sánh tiếng Anh ở trên, dạng có cấu trúc “as…as…” (As-simile) tương đương với dạng thành ngữ so sánh có yếu tố tính từ trong tiếng Việt. Đây là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn. Chúng tôi sẽ trình bày một vài đặc điểm của dạng thành ngữ so sánh có cấu trúc“as…as…”(As-simile) trong phần tiếp theo.

1.2.3. Đặc điểm thành ngữ so sánh với “AS” (As- simile)

Hầu hết các tính từ trong thành ngữ so sánh với As (As-simile) là đơn âm tiết. Nhiều thành ngữ so sánh Anh diễn ra sự lặp âm đầu và sự hiệp vần, chẳng hạn như: bold as brass, drunk as a skunk, fit as a fiddle, good as gold, happy as Larry, nice as pie, right as rain, sick as a pig, snug as a bug (in a rug), thick as thieves,…

Một vài simile lại tồn tại song hành với cấu trúc so sánh có “than”, chẳng hạn như các ví dụ sau đây:

as happy as a pig in shit-> happier than a pig in shit

as white as snow -> whiter than snow

as hot as hell -> hotter than hell

Trong một vài trường hợp, As-simile tồn tại song song với cấu trúc “like + cụm danh từ (không có tính từ)”. Chẳng hạn: quick as lightning (nhanh như chớp) song hành với like lightning (như chớp), regular as clockwork (đều đặn như đồng hồ) song song với like clockwork (như đồng hồ),…

Nghĩa của As-simile tương ứng với nghĩa của thành tố tính từ có trong nó, nhưng nhấn mạnh hơn. Chẳng hạn: quiet as a mouse (im lặng như chuột) có nghĩa là “very quiet” (rất im lặng).

Khi tính từ mang nhiều nét nghĩa, As-simile có thể chỉ mang một nét nghĩa nào đó, dù đó là nét nghĩa không phổ biến, không phải là nghĩa chính. Ví dụ: bold as brass (trơ tráo như kèn đồng) có nghĩa là “impudent” (trơ trẽn), right as rain có nghĩa là “satisfactory” (tốt đẹp).

Nhiều As-similes có thể có hơn một nét nghĩa, ví dụ: hard as nails vừa có nghĩa là cứng cáp (vật chất), vừa có nghĩa là lạnh lùng, vô cảm, dửng dưng (tinh thần); dry as dust có thể là sự khô khan (vật chất) hay là sự tẻ nhạt- nhàm chán (cảm xúc).

Trong nhiều trường hợp, các nét nghĩa khác nhau của tính từ đa nghĩa sẽ chọn lựa những nhóm danh từ tương ứng khác nhau. Ví dụ thick as thieves có nghĩa là sự thân thiết, nhưng thick as two short planks lại mang nghĩa là “ngu ngốc”, red as blood liên quan tới màu sắc trong khi red as a beetroot lại liên quan tới sự bối rối hay giận dữ.

Một vài As-similes mang nghĩa châm biếm, mỉa mai, như: clear as mud với nghĩa “unclear” (không rõ ràng), as traight as a round-about (thẳng như… bùng binh-> không thẳng), as funny as a funeral (vui như …đám tang-> buồn).

Norrick (1986) đã bàn về nghĩa của tính từ trong similes và mối quan hệ giữa tính từ với cụm danh từ (đối tượng so sánh) và khách thể được miêu tả. Ông chia thành ba tiểu loại sau: nghĩa đen, nghĩa bóng, và nghĩa không thích hợp. Ở nhóm đầu tiên, tính từ duy trì nét nghĩa ban đầu, nghĩa đen hay là nghĩa cụ thể (ví dụ: quick as a flash, flat as a pancake), trong nhóm thứ hai, nghĩa của tính từ là nghĩa đen trong mối quan hệ với cụm danh từ làm đối tượng so sánh, nhưng lại mang nghĩa bóng trong mối quan hệ với khách thể miêu tả (chẳng hạn, cool as a cucumber, sharp as a tack). Ở nhóm thứ 3, các tính từ nói tới đặc tính được gán cho khách thể chứ không phải cho danh từ làm đối tượng so sánh (ví dụ: daft as a brush, poor as a church mouse). Norrick cũng đã khảo sát: dựa trên 366 similes liệt kê được trong “The Oxford Dictionary of Proverbs” (1970), có 25% tính từ nói tới màu sắc hay cảm nhận giác quan khác trong khi đó có 38% đối tượng so sánh là động vật, 19% là cây cối và các sản phẩm thiên nhiên khác, 14% là vật tạo tác, vải vóc, nhà cửa,..v.v. Trong bài viết “Conventionalized as-similes in English” (2008), Rosamund Moon lại có con số khác một chút: Số lượng động vật ít hơn, nhưng vật tác tạo và môi trường tự nhiên lại nhiều hơn, trong khi đó hơn 70% tính từ đề cập tới màu sắc hoặc đặc tính vật lý (không nhất thiết là từ chỉ giác quan), chiều, tốc độ, tuổi tác [89, tr. 3-37].

Nhiều similes là cơ sở hình thành nhiều từ ghép. Chẳng hạn: ice-cold (as cold as ice), pitch-dark (as dark as pitch), bone-dry (ais dry as bone), lightning-quick (as quick as lightning), jet-black (as black as jet), crystal- clear (as clear as crystal), button- cute (as cute as a button), rock-solid (as solid as a rock), stick- thin (as thin as a stick), boot-tough (as tough as old boots), die-straight (as straight as a die),…

2. Tính chất văn hóa – dân tộc trong thành ngữ so sánh

2.1. Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Hoàng Văn Hành từng nói: “Nếu như những khảo cổ vật thuộc văn hoá vật thể ở các di chỉ khảo cổ học tàng ẩn sâu trong lòng đất, thì những trầm tích văn hoá tinh thần cũng như vật chất tàng ẩn sâu kín trong những tín hiệu ngôn từ đầy bí ẩn và kỳ thú của ngôn ngữ dân tộc” [30, tr. 142]. Giữa ngôn ngữ và văn hóa có mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời. Ngôn ngữ được xem như một bộ phận hữu cơ của văn hóa. Ngôn ngữ là kết tinh của văn hóa, là một trong những thành tố đặc trưng nhất của bất cứ nền văn hóa dân tộc nào. Chính trong ngôn ngữ, đặc điểm của nền văn hóa dân tộc được lưu giữ lại rõ ràng nhất. Ngược lại, đặc trưng văn hóa dân tộc cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc đó. Sự biến đổi và phát triển ngôn ngữ luôn luôn đi song song với sự biến đổi và phát triển văn hóa. Vậy muốn nghiên cứu sâu về văn hóa phải nghiên cứu ngôn ngữ, và tất nhiên muốn đi sâu vào ngôn ngữ phải chú tâm đến văn hóa. Ðiều đó được thể hiện rõ ràng trong trường hợp tiếp xúc, giao tiếp văn hóa mà hai bên có bối cảnh văn hóa khác nhau.

Trong thời đại hiện nay, quá trình trao đổi văn hóa giữa các dân tộc đang diễn ra mạnh mẽ, mà ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất của sự trao đổi đó. Quá trình trao đổi văn hóa giữa các dân tộc có thể diễn ra theo nhiều con đường khác nhau. Đó có thể là sự trao đổi trực tiếp giữa những người thuộc dân tộc khác nhau hoặc thông qua các phương tiện giao tiếp đại chúng (báo chí, đài phát thanh, truyền hình, điện ảnh). Quá trình trao đổi văn hóa giữa các dân tộc còn có thể diễn ra qua việc dịch những tác phẩm văn học nghệ thuật, những nghiên cứu văn hoá, lịch sử…từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác. Đây là nguyên nhân khiến trong các ngôn ngữ có mang những đặc điểm văn hóa giống nhau do sự vay mượn.

2.2. Ngữ nghĩa văn hóa của từ

Theo Dương Kỳ Đức trong công trình “Ý nghĩa của một thực từ”, nghĩa của một thực từ gồm hai phần: nghĩa ngữ hiệu và nghĩa văn hàm. Nghĩa ngữ hiệu là nghĩa của từ với tư cách một tín hiệu ngôn ngữ, nó thể hiện khái niệm, các đặc trưng chung của đối tượng được con người nhận thức qua thực tiễn xã hội. Còn nghĩa văn hàm được hiểu là nghĩa của từ với tư cách một hàm tố văn hóa, chứa đựng tư duy, văn hóa riêng của dân tộc nói ngôn ngữ đó [4, tr.30]. Ta có thể hiểu nghĩa văn hàm ở đây chính là nghĩa biểu trưng của từ.

Nghĩa của từ trong một ngôn ngữ phản ánh ý thức xã hội của cộng đồng người sử dụng ngôn ngữ đó như tiếng mẹ đẻ. “Mặc dù là quy luật chung phản ánh hiện thực khách quan của những

người bản ngữ thuộc ngôn ngữ (văn hóa) khác nhau, trong hệ thống ý nghĩa không thể không phản ánh đặc trưng văn hóa- dân tộc của hoạt động được tiến hành bằng công cụ giao tiếp” [71, tr. 17]. Chúng ta sẽ khó có thể dịch được hoàn toàn đầy đủ nội dung ý nghĩa của từ trong ngôn ngữ này bằng một từ của ngôn ngữ khác. Do đó, việc nghiên cứu ngôn ngữ có thể giúp tìm hiểu được nét độc đáo về văn hóa- dân tộc của chủ thể ngôn ngữ ấy.

Chúng ta có thể lấy một vài ví dụ về từ ngữ chỉ động vật như: “rồng”, “bò”, “dê”, “chim khách” để làm sáng tỏ điều đã nói ở trên. Như vậy, ngoài chức năng định danh ra, các từ ngữ trên còn hàm chứa yếu tố văn hóa bên trong thông qua việc gợi lên một sự liên tưởng nào đó. Các từ ngữ này thể hiện cách cảm nhận, cách đánh giá các con vật xấu hay tốt. Trong tiếng Việt, từ “con rồng” ngoài chức năng định danh chỉ một con vật tưởng tượng ra, nó còn là biểu tượng của nhà vua và dân tộc Việt. Người Việt thường tự nhận là “con rồng cháu tiên”. Nhưng với người phương Tây, từ “dragon” (rồng) lại gợi lên một con vật rất hung ác, luôn làm hại con người.

Tương tự như vậy, trong Hán ngữ, con bò vàng (lão hoàng ngưu) tượng trưng cho những người làm việc cần cù, khiêm tốn, là một danh hiệu rất quí giá. Nhưng trong tiếng Việt, con bò lại là một biểu tượng của sự ngu đần. Người ta nói “ngu như bò”. Trong khi đó để chỉ người kém thông minh, người Mỹ nói “óc nhỏ như hạt đậu” (bean).

Trong ngôn ngữ Việt, từ lóng “dê” có nghĩa không đẹp, dùng để chỉ đàn ông đa dâm: “máu dê”, “dê cụ”, “dê xồm”, “râu dê”,… Nhưng trong Hán ngữ thì dê là hình ảnh dễ thương, hiền lành. Ngoài ra vì đồng âm với chữ may mắn nên người Trung Hoa xem con dê là tượng trưng cho sự may mắn.

Người Việt và người Trung Hoa cho con chim khách là biểu tượng của điềm lành, tin rằng nó đem lại tin vui. Nhưng với người Châu Âu, hình ảnh chim khách không quý báu gì, ở nước Nga người ta cho loại chim này là tượng trưng cho kẻ đâm bị thóc, chọc bị gạo và kẻ trộm.

Hàm tố văn hóa trong ngữ nghĩa của từ còn được thể hiện qua cách dùng từ đó. Ví dụ một từ có cùng nghĩa nhưng lại thay đổi, hay thêm bớt nghĩa, tùy theo cách dùng, cách đặt câu của từng quốc gia. Chẳng hạn như từ “nóng”/ “hot”/ ”chaud” của tiếng Việt/Anh/Pháp. “Nóng” của tiếng Việt giống như “hot” của tiếng Anh ở chỗ ngoài chỉ tính chất vật lý nhiệt độ cao còn có nghĩa nóng nảy, mới tinh. Trong tiếng Anh “hot” có thêm nghĩa nữa là cay (hot pepper). “Chaud”, “chaudeur” trong tiếng Pháp là nóng, nhưng nếu nhầm lẫn nói một người đàn bà đang “en chaleur” (đang ham muốn nhục dục) thì thật nguy hiểm.

Như vậy ta có thể nói rằng đặc trưng văn hóa dân tộc được thể hiện rõ nhất qua nét nghĩa văn hàm hay nét nghĩa biểu trưng của từ. Đây cũng là tiền đề để tạo ngữ nghĩa văn hóa trong thành ngữ so sánh sẽ được nói đến ở phần sau.

2.3. Đặc trưng văn hóa – dân tộc trong thành ngữ so sánh

“Có thể nhận định một cách tổng quát rằng vốn thành ngữ của tiếng Việt, cũng như của bất kỳ một ngôn ngữ nào khác, là một kho báu lưu giữ những trầm tích văn hoá đặc sắc và phong phú của dân tộc.” [30, tr. 142].

Thành ngữ, đặc biệt thành ngữ so sánh, là đơn vị mang nhiều đặc trưng văn hoá- dân tộc qua nhiều khía cạnh.

Trước hết, so sánh là một hiện tượng phổ quát trong nhận thức cũng như trong ngôn ngữ. Cái riêng được bộc lộ ở phương tiện ngôn ngữ đặc thù được dùng để biểu thị quan hệ so sánh, chẳng hạn trong tiếng Việt là “như”, trong tiếng Anh: “as…as…” và “like…”.

Qua thành ngữ so sánh ở mỗi ngôn ngữ, ta thấy đối tượng dùng để so sánh phản ánh rõ nét đặc trưng văn hoá của dân tộc nói ngôn ngữ đó. Thông thường, khi lựa chọn cái để làm đối tượng so sánh, người nói những ngôn ngữ khác nhau đều chọn những sự vật, hiện tượng rất quen thuộc trong đời sống hàng ngày của mình. Văn hoá, địa lý, lịch sử,… ở mỗi nước, đặc biệt là giữa các nước phương Đông và phương Tây có sự khác biệt lớn, điều này tất yếu sẽ được phản ánh trong thành ngữ so sánh thông qua việc lựa chọn đối tượng so sánh ở mỗi ngôn ngữ. Trong nhiều trường hợp, để biểu thị cùng một ý tưởng, mỗi dân tộc lại chọn các đối tượng khác nhau để so sánh. Ví dụ, để biểu thị sự “im lặng”, người Việt dùng các thành ngữ so sánh: im như chết, im như thóc, im như thóc trầm ba mùa, im như hến, im như ngậm hột thị trong khi người Anh lại nói: as quiet as a pool (im như cái hồ nước)/ as quiet as a fish (im như con cá), as dumb as oyster (im như con sò), as close as wax (im như sáp ong), as quiet as a mouse (im như con chuột). Để biểu thị trạng thái “sạch sẽ”, người Việt dùng thành ngữ sạch như lau, sạch như chùi, sạch như li như lai, còn người Anh lại nói: as neat as a new pin (sạch như đinh ghim), as clean as a whistle (sạch như tiếng còi), as clean as a new pin (sạch như chiếc đinh ghim), as clean as crystal (sạch như thuỷ tinh), as clean as springwater (sạch như nước mùa xuân),…

Có thể xảy ra sự gặp gỡ trong việc lựa chọn đối tượng so sánh do tính phổ quát của vũ trụ, tính phổ quát sinh học, tư duy của con người hoặc do sự tiếp xúc xã hội. Những thành ngữ ở hai ngôn ngữ giống nhau hoàn toàn về sự lựa chọn vật so sánh, về ngữ nghĩa và cách dùng thật sự rất hiếm. Ta có vài ví dụ hiếm hoi sau: ướt như chuột lột- like a drowned rat, như nước đổ đầu vịt –like water off a duck’s back, như chó với mèo- like cat and dog,… Tuy nhiên, trong hầu hết sự gặp gỡ này, mỗi dân tộc cũng vẫn thể hiện được nét riêng thông qua cách sử dụng thành ngữ biểu trưng cho cái gì. Chẳng hạn người Việt và người Anh đều có thành ngữ nóng như lửa. Người Anh nói as hot as fire. Như vậy chúng ta thấy hai ngôn ngữ đều chọn đối tượng so sánh là “lửa” (fire), một vật rất quen thuộc trong đời sống con người nói chung. Hai thành ngữ tưởng chừng hoàn toàn tương đương nhau, song lại bộc lộ điểm riêng ở chỗ: người Anh dùng thành ngữ này để chỉ nhiệt độ cao mang

tính vật lý trong khi người Việt dùng để chỉ trạng thái nóng nảy trong tính cách con người cả việc thể hiện nhiệt độ cao. Một ví dụ khác nữa là thành ngữ lạnh như sắt, lạnh như đá trong tiếng Việt và as cold as steel/ as cold as stone trong tiếng Anh. Nếu như lạnh như sắt/ đá trong tiếng Việt chỉ đề cập tới thái độ lạnh lùng, dửng dưng của con người, thì as cold as steel/ stone lại vừa chỉ nhiệt độ thấp, vừa chỉ thái độ vô cảm của con người.

Sự khác biệt mang tính văn hoá – dân tộc qua thành ngữ so sánh còn thể hiện ở thái độ đánh giá sự vật, hiện tượng. Chẳng hạn các thành ngữ so sánh có thành tố động vật. Cùng khai thác một loài vật nhưng mỗi dân tộc lại có những liên tưởng khác nhau. Nói như Nguyễn Thuý Khanh: “Mỗi con vật thường gợi lên trong ý thức của người bản ngữ một sự liên tưởng nào đó, gắn liền với những đặc điểm, thuộc tính của con vật” (Dẫn theo Nguyễn Thị Bảo, [4 tr.34]). Do đó mỗi thành tố động vật đều gợi lên những đặc điểm, tính chất khác nhau phụ thuộc vào quan niệm, tâm sinh lý, tư duy của mỗi dân tộc. Ví dụ, hình ảnh “chuột” trong tâm trí người Việt Nam thường gợi lên nét nghĩa tiêu cực, như sự bẩn thỉu trong hôi như chuột chù, hay kẻ cơ hội, bất tài gặp dịp may trong như chuột sa hũ nếp, kẻ tiểu nhân trong len lét như chuột ngày trong khi đó, từ “mouse” (chuột) trong tiếng Anh lại gợi lên hình ảnh một người lặng lẽ, nhút nhát (as quiet as a mouse- lặng lẽ như chuột), hay một người trong hoàn cảnh nghèo hèn rất đáng thương (as poor as a church mouse-nghèo như chuột ở nhà thờ). Hoặc qua thành ngữ so sánh Việt, hình ảnh “gà” thường gợi đến việc đẻ nhiều trong đẻ như gà, hay chỉ tác phong chậm chạp trong lờ đờ như gà ban hôm, sự bối rối, lúng túng, nháo nhác trong: lúng túng như gà mắc tóc, nháo nhác như gà phải cáo, nháo nhác như gà lạc mẹ, rối như gà mắc đẻ. Trong khi đó người Anh lại xem “gà”, đặc biệt là “gà trống” (cock) là hình ảnh của sự giàu có, sung túc như trong thành ngữ live like fight cocks.

Hoàng Văn Hành khi nghiên cứu thành ngữ so sánh đã có nhận xét: “Một đặc trưng nổi bật về mặt ngữ nghĩa của thành ngữ so sánh là vế B (đối tượng so sánh) trong cấu trúc so sánh bao giờ cũng có tầng nghĩa đôi. Như một quy luật, các từ ngữ thuộc vế so sánh vẫn được dùng với nghĩa vốn có của mình, nhưng lại cốt để hàm một ý khác của nó…[]…sự song hành hai tầng nghĩa làm cho thành ngữ so sánh có tính hình tượng” [30, tr. 105-106]. Và ông đã gọi nghĩa cấu trúc so sánh là nghĩa biểu trưng với vế B (đối tượng so sánh) là vế mang nghĩa biểu trưng ấy.

Như vậy nghĩa của thành ngữ so sánh thể hiện qua ý nghĩa biểu trưng của từ, cụm từ làm đối tượng so sánh. Và qua vế đối tượng so sánh này, “chúng ta có thể thấy được bóng dáng của cách nhìn, cách nghĩ, thấy được một phần cái dấu ấn của cảnh sắc thiên nhiên, đời sống văn hoá, vật chất tinh thần của dân tộc được phản ánh trong ngôn ngữ” [30, tr. 101].

3. Cơ sở đối chiếu thành ngữ so sánh giữa hai ngôn ngữ

Thủ pháp so sánh là một thủ pháp nghệ thuật nhằm kết nối cái so sánh và cái được so sánh từ một yếu tố chung, nhờ một công cụ ngữ pháp. Hay nói cách khác, đó là việc thiết lập mối quan hệ giữa hai sự vật, hiện tượng khác nhau nhưng lại giống nhau ở một điểm nào đó bằng một từ biểu thị quan hệ so sánh. Thủ pháp này được sử dụng khá phổ biến trong thành ngữ, tục ngữ. Đặc biệt trong thành ngữ so sánh, nó đóng vai trò là thủ pháp nòng cốt với cách diễn đạt dễ nhớ, dễ dùng, nhờ đó mà người nói có thể diễn đạt sự liên tưởng của mình một cách trực tiếp và bột phát.

Vũ Bội Liêu cũng đã có sự giải thích về “cách tỷ lệ” trong ngôn ngữ: “ … dân tộc nào cũng vậy, khi cần hình dung một vật gì, hay muốn miêu tả một ý gì cho xác đáng, đều cảm thấy sự cần phải đem vật này ví với vật khác, việc nọ với việc kia, để cho rõ ý mình muốn nói” [50, tr. 36]

Vì mỗi dân tộc có những đặc trưng về lịch sử, văn minh, văn hóa, khí hậu v.v… nên họ có những lời ăn tiếng nói rất riêng. Tuy vậy, đôi khi ngôn ngữ giữa các dân tộc lại có sự gặp gỡ thú vị. Những nét tương đồng và dị biệt giữa các thành ngữ so sánh tiếng Việt và các thành ngữ so sánh tiếng Anh cho phép chúng ta khẳng định điều đó.

Việc tìm hiểu, nghiên cứu nét tương đồng và khác biệt giữa các ngôn ngữ nói chung và thành ngữ ở mỗi dân tộc nói riêng không những có giá trị trên phương diện ngôn ngữ học mà còn trong nhiều lĩnh vực khác như văn học, dịch thuật, văn hoá, lịch sử,… Trong dịch thuật, đặc biệt là dịch văn học, việc dịch tục ngữ, thành ngữ từ ngữ nguồn sang ngữ đích không phải là một việc đơn giản, cho tới nay vẫn còn nhiều tranh luận, chủ yếu giữa hai trường phái: hướng nguồn (Source-oriented) và hướng đích (Target-oriented). Trường phái “hướng nguồn” đề xuất giải pháp dịch bám sát nghĩa từng từ (word by word) có trong thành ngữ của văn bản nguồn để trung thành với tinh thần và sắc thái của nguyên bản. Trong khi đó, trường phái “hướng đích” lại chủ trương dịch bằng thủ pháp tương đương về ngữ nghĩa của thành ngữ, tức chỉ chú ý đến việc chuyển tải cái được biểu đạt.

Để lý giải cho sự gặp gỡ thú vị giữa hai ngôn ngữ, Whatmough trong “Language” (1956) đã đề cập tới tính phổ quát ngôn ngữ (universaux linguistiques): “Ngôn ngữ dù có khác nhau nhưng vẫn có những tính phổ biến cơ bản, chúng tái hiện trong tất cả các ngôn ngữ cho đến đây đã được xem xét” [5, tr.10-12]. Tính phổ quát của ngôn ngữ có thể xem như là sự tương đồng giữa các ngôn ngữ về mặt ngữ nghĩa, ngữ âm, hình vị, ngữ pháp,… Sự phổ quát trong ngôn ngữ có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như do đặc điểm chung trong tâm sinh lý con người, tính phổ quát của vũ trụ. Cùng là con người nên dân tộc nào cũng có những điểm giống nhau về sinh lý và tâm trạng, cảm xúc,… Martinet, một nhà ngôn ngữ người Pháp cho rằng: “vì con người sống chung một hành tinh và có điểm chung là sự tương đồng về thể chất và tâm lý, cho nên chúng ta có thể phát hiện ra một sự song song nào đó trong sự phát triển của lời ăn tiếng nói” [5, tr. 10-12]. Đó là lí do tại sao trong hầu hết các ngôn ngữ đều có các khái niệm như: vui, buồn, giận, sợ, đói, no, đỏ, đen, cao, thấp, tròn, dài, ngắn, cứng, mềm,… Ngoài ra, cũng theo Martinet, tính phổ quát ngôn ngữ còn xuất phát từ tính phổ quát của vũ trụ. Trong bất cứ ngôn ngữ nào chúng ta cũng bắt gặp các khái niệm: đêm, ngày, lửa, đất, nước, trời, biển, sông, núi, mưa, bão, tuyết,…

Ngoài ra, để lý giải sự giống nhau giữa hai ngôn ngữ, chúng ta cũng nên kể tới sự vay mượn, một yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển ngôn ngữ. Qua sự tiếp xúc về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội v.v…, lời ăn tiếng nói của các dân tộc dần dà được “toàn cầu hoá”. Sự thật là có những thành ngữ mà chúng ta không thể biết nguồn gốc của nó là từ nước nào.

Sự tương đồng giữa các thành ngữ về cái được biểu đạt, thật đáng kinh ngạc. Riêng trong phạm vi thành ngữ so sánh, chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều sự gặp gỡ kỳ diệu này. Chẳng hạn, người Việt nói nhanh như chớp thì người Anh cũng nói as fast as lightning (nhanh như chớp), người Pháp cũng có câu tương tự “rapide comme l’éclair” (nhanh như chớp); người Việt béo như lợn thì người Anh as fat as a big, người Pháp “gras comme un cochon” hay “cứng như đá”- “as hard as a rock”- “solide comme le roc” hoặc “sướng như Vua”- “as happy as a king”- “heureux comme un roi”,…v.v

Qua việc nghiên cứu đối chiếu thành ngữ so sánh tiếng Việt và thành ngữ so sánh tiếng Anh, chúng tôi nhận thấy số lượng thành ngữ tương đương về nghĩa nhưng khác nhau về hình ảnh so sánh (đối tượng so sánh) khá nhiều. Ví dụ: người Việt nói khô như ngói thì người Anh sẽ nói là khô như mùn cưa/ bộ xương (as dry as sawdust/ bone), người Pháp nói khô như một cục xương (sec comme un os), người Việt nói ngu như bò trong khi người Anh nói “ngu như con ngỗng/ con lừa (as stupid as a goose/ donkey) và người Pháp thì nói ngu như đôi bàn chân của mình (bête comme ses pieds),…

Cũng có thể thấy rằng giữa các thành ngữ này có thể có sự tương đương về ngữ nghĩa nhưng không thể hoàn toàn giống nhau cả về nội dung lẫn hình thức. Vì vậy, khi chúng ta dịch các thành ngữ tiếng Việt sang tiếng Anh hoặc ngược lại, nếu dịch sát từ từng sẽ cho ra những câu nói rất khập khiễng, khó hiểu. Tuy việc tìm một thành ngữ tương đương trong ngôn ngữ đích để dịch một thành ngữ nguồn có thể giúp người đọc hiểu nghĩa văn bản, song trong nhiều trường hợp, giải pháp này lại rất khó đảm bảo sự cân bằng về chất lượng ngữ nghĩa, bản sắc văn hoá…của câu thành ngữ trong ngôn ngữ nguồn.

4. Tài liệu tham khảo

  1. Vũ Thuý Anh (1985), “Cấu trúc so sánh và thành ngữ so sánh”, Ngôn ngữ, (4), tr.71-72.
  2. Nguyễn Nhã Bản (2001), Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh (trên dẫn liệu ngôn ngữ), NXB Nghệ An.
  3. Nguyễn Nhã Bản (2003), Cuộc sống của thành ngữ, tục ngữ trong kho tàng ca dao người Việt, NXB Nghệ An.
  4. Nguyễn Thị Bảo (2003), Ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt (So sánh với thành ngữ tiếng Anh), luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
  5. Nguyễn Duy Bình (2010), “Thử so sánh thành ngữ so sánh tiếng Pháp với thành ngữ Nghệ Tĩnh”, Chuyên san Khoa học xã hội và Nhân văn Nghệ An, (4), tr.10-12.
  6. Phạm Văn Bình (2003), Khảo sát các lỗi giao thoa ngôn ngữ – văn hóa trong diễn ngôn của người Việt học tiếng Anh, Viện Ngôn ngữ học.
  7. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội.
  8. Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
  9. Đỗ Hữu Châu (2000), “Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ”, Ngôn ngữ, (10).
  10. Nguyễn Văn Chiến (2002), Điển cố với các đặc trưng ngôn ngữ và nội hàm văn hóa của chúng (trên cứ liệu điển cố Nga, Anh, Việt), Đại học Quốc gia Hà Nội.
  11. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục.
  12. Việt Chương (2001), Từ điển tục ngữ, thành ngữ, ca dao Việt Nam, NXB Đồng Nai.
  13. Dương Quốc Cường (2009), “Cơ sở lý luận dịch thành ngữ tiếng Nga sang tiếng Việt”, Khoa học và Công nghệ, (3), Đại học Đà Nẵng.
  14. Nguyễn Đức Dân (1986), Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng”, Ngôn ngữ, (3), tr 8 – 10
  15. Hữu Đạt (2000), Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.
  16. Chu Xuân Diên (2008), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
  17. Nguyễn Văn Độ (2004), Tìm hiểu mối liên hệ ngôn ngữ-văn hóa, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *