You are here: Home » Quản lý giáo dục » Một số kiến thức lý luận về giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT

Một số kiến thức lý luận về giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT

Một số kiến thức lý luận về giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT
Rate this post

1. Mục đích của công tác giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông

Nhằm bồi dưỡng, hướng dẫn HS chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển của XH, đồng thời phù hợp với thể lực và năng khiếu của cá nhân. (Theo thông tư31/TT của Bộ GD-ĐT ban hành ngày 17/11/1981).

Một số kiến thức lý luận về giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT

Một số kiến thức lý luận về giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận về ngành Quản lý giáo dục hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất

2. Nội dung giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông

a). Mục tiêu

Mục tiêu GDHN cho HSPT là phát hiện và bồi dưỡng phẩm chất nhân cách nghề nghiệp cho HS, giúp các em hiểu mình, hiểu yêu cầu của nghề, hiểu được xu thế phát triển hệ thống nghề trong XH. Thông qua HĐGDHN, GV giúp HS điều chỉnh động cơ học nghề, trên cơ sở đó các em định hướng đi vào lĩnh vực sản xuất mà XH đang có nhu cầu nhân lực. [10, tr. 10]

b).Nội dung hướng nghiệp ở cấp THCS và THPT

Nội dung HN ở cấp THCS và THPT gồm những mạch nội dung sau:

– Định hướng phát triển KT-XH của địa phương, cả nước.

– Nhu cầu về thị trường lao động.

– Thông tin nghề nghiệp và cơ sở ĐT.

– Năng lực bản thân, hoàn cảnh và truyền thống nghề nghiệp gia đình.

– Lập kế hoạch lựa chọn hướng đi và chọn nghề sau khi tốt nghiệp THCS và THPT. Những nội dung được thể hiện thành những chủ đề trong chương trình. Trong một số chủ đề, HS phải lập kế hoạch lựa chọn hướng đi và chọn nghề sau khi tốt nghiệp THCS và THPT.

Nội dung chương trình lớp 9 giúp HS có được những kiến thức cơ sở; nội dung chương trình lớp 10, 11 giúp các em tìm hiểu thông tin nghề nghiệp cụ thể; nội dung chương trình lớp 12 tập trung vào tìm hiểu thông tin ĐT và hướng phát triển kinh tế nhằm giúp cho việc quyết định chọn nghề. [10, tr. 13]

3. Phương hướng chủ yếu của nội dung hướng nghiệp hiện nay

a). Công tác hướng nghiệp góp phần điều chỉnh việc lựa chọn nghề của thanh thiếu niên, học sinh theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Một trong những mục đích chính của công tác HN là điều chỉnh hướng chọn nghề của thế hệ trẻ cho phù hợp với những yêu cầu phát triển của kinh tế. Vì thế, trong công tác HN Nhà GD luôn đòi hỏi thanh thiếu niên, HS phải trả lời được câu hỏi: “Nghề định chọn có nằm trong những nghề mà XH đang cần phát triển hay không?”

Đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH, cơ cấu kinh tế sẽ chuyển đổi theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong thu nhập quốc nội. Xu hướng chọn nghề của thanh thiếu niên, HS phải phù hợp với xu hướng dịch chuyển cơ cấu kinh tế là một yêu cầu của HN.

Chính điều này đã đặt ra trong GD phải thông tin chính xác về yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế để thế hệ trẻ có cơ sở cân nhắc định hướng chọn nghề cho bản thân. Và vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải được nhà trường quan tâm như là một định hướng chuẩn bị cho HS ra trường.

b). Hướng nghiệp phát huy tác động giáo dục ý thức chính trị và lý tưởng nghề nghiệp cho người lao động

Trong GDHN những bài toán tăng trưởng kinh tế, phát triển XH phải được đặt ra trước cho HS khi các em quyết định con đường lao động nghề nghiệp của mình. Hiện nay, nước ta đang bước vào thời kỳ mở cửa, mở rộng thị trường ra bên ngoài, sự cạnh tranh về thị trường hàng hóa trong quá trình phát triển kinh tế giữa quốc gia càng quyết liệt. Đòi hỏi thị trường lao động phải đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH của quốc gia.

Thông qua những thông tin về thị trường lao động, phân tích cho HS thấy sự cần thiết phải vươn lên nắm lấy những công nghệ cao… Bởi các công nghệ lạc hậu sẽ làm chi phí đầu tư quá lớn, từ đó năng suất lao động và chất lượng sản phẩm thấp.

Bên cạnh, cũng cho HS thấy sự cần thiết phải nâng cao năng lực sản xuất, năng lực tiếp thị và năng lực sáng tạo. Đó là những yếu tố sẽ quyết định năng lực cạnh tranh của CSSX, của doanh nghiệp. Là một nước nông nghiệp lạc hậu, trên con đường CNH-HĐH đất nước, cần phải thật sự có một cuộc cách mạng trong nông nghiệp, phát triển nền nông nghiệp sinh thái, nền nông nghiệp sạch, bảo đảm chất lượng cao về những mặt hàng nông sản. Chúng ta không chỉ quan tâm đến an ninh lương thực mà còn phải đề cao an toàn thực phẩm, đây là vấn đề quyết định đến việc phát triển thị trường hàng hoá nông nghiệp.

Mặt khác, qua HN và các hoạt động khác trong nhà trường nhằm cho HS thấy tính tất yếu của việc chuyển nhà nông sang các nghề thuộc lĩnh vực phi nông nghiệp với khẩu hiệu “ly nông bất ly hương”. Ngay trong quá trình học ởtrường phổ thông, HS phải được định hướng đi vào những nghề mà chính địa phương đang có, các khu công nghiệp hoặc các khu chế xuất mọc lên…

c). Hướng nghiệp gắn với việc học tập làm chủ công nghệ mới

Thông qua HN, HS thấy được sự sống còn của nghề nghiệp gắn bó chặt chẽ với đổi mới công nghệ với việc làm chủ những tri thức hiện đại, với việc học hỏi liên tục và ĐT suốt đời.

Nền sản xuất hiện nay đang thừa hưởng thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại. Với vòng đời của công nghệ rút ngắn, các sản phẩm có mặt hàng trên thị trường không thể kéo dài hàng năm, mà là hàng tháng, hàng tuần. Các doanh nghiệp buộc phải nâng cao tính cạnh tranh trên cơ sở nâng cao năng lực làm chủ những công nghệ mới.

Lẽ sống của các doanh nghiệp là đổi mới công nghệ, mở rộng t hị trường. Trong điều kiện này, hệ thống trường học, bệnh viện, nhà in, nhà xuất bản, các nhà hát, thư viện, câu lạc bộ…cũng thay đổi về nội dung và hình thức hoạt động theo nhịp độ đổi mới công nghệ. HN trong giai đoạn hiện nay phải chỉ ra hướng phát triển của các nghề theo hướng ứng dụng những tri thức mới, những công nghệ mới và vẽ nên viễn cảnh phát triển của nghề.

Đây là chỗ khó của HN và cũng là lẽ tồn tại của HN. HS chỉ thấy được thực trạng của nghề trong hiện tại, không thấy được những biến đổi mau lẹ của nội dung, hình thức, phương pháp công tác trong nghề bằng những công nghệ mới, không mường tượng được con đường hiện đại hoá của nghề nên khó có thể quyết định việc lựa chọn lĩnh vực lao động sau khi rời trường học.

d). Hướng nghiệp chuẩn bị con người năng động thích ứng với thị trường

Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế đã đặt ra cho công tác HN những yêu cầu mới như cùng với việc giới thiệu nghề cụ thể cho HS còn phải cho HS thấy rằng, thiếu năng lực sáng tạo sẽ không bảo đảm được sức cạnh tranh trên thị trường.

Song song, trong quá trình làm một nghề, người lao động còn phải tăng tính thích ứng của mình với những thay đổi lớn lao của thị trường hàng hoá, có những trường hợp còn phải có năng lực chuyển sang nghề khác. Đây là tinh thần mới của HN. Trong thời đại mới, do sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, rất nhiều thành tựu khoa học mới được ứng dụng rộng rãi trong đó có công nghệ thông tin.

Việc “máy tính hoá” các hoạt động nghề nghiệp và phổ cập Internet đang ngày càng bức bách buộc người lao động phải nắm chắc việc sử dụng máy tính và ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh trước khi dự tuyển vào bất kỳngành, nghề nào.

Trong điều kiện phát triển của thị trường, công tác HN cần hướng một bộ phận không nhỏ những HS tốt nghiệp phổ thông đi vào lĩnh vực kinh doanh. Đây là đội ngũ có một vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của nước nhà. Chân dung các nhà doanh nghiệp được mô tả khoa học trong các giờ HN để HS có năng khiếu kinh doanh chú ý đến các nghề thuộc lĩnh vực này.

Trên đường tiếp cận với kinh tế tri thức, trong sinh hoạt HN cần dành một thời gian thích đáng cho việc làm quen với những lĩnh vực công nghệ mũi nhọn: như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và công nghệ tự động hoá nhằm giúp cho HS hiểu được phương hướng và các mục tiêu phát triển các công nghệ này ở nước ta. Mặt khác, trong nội dung HN cũng cần nói đến những đặc điểm kinh tế tri thức và những yêu cầu đặt ra trước cho người lao động phục vụ nền kinh tế này.

Tham khảo thêm các bài viết khác:

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học (CNNGVTH)

Khái niệm quản lý trường học, giáo dục hướng nghiệp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *