You are here: Home » Tin Tức » Những vấn đề chung về so sánh tu từ trong tục ngữ Việt và tục ngữ Anh

Những vấn đề chung về so sánh tu từ trong tục ngữ Việt và tục ngữ Anh

Những vấn đề chung về so sánh tu từ trong tục ngữ Việt và tục ngữ Anh
Rate this post

So sánh tu từ trong tục ngữ Việt Nam và tục ngữ Anh. Khái niệm tục ngữ Việt Nam và tục ngữ Anh. Khái niệm so sánh tu từ, cấu trúc so sánh tu từ. Tác dụng của so sánh tu từ

So sánh tu từ trong tục ngữ Việt và tục ngữ Anh có ý nghĩa đặc biệt trong giai đoạn hội nhập kinh tế. Nắm được sự tương đồng cũng như khác biệt sẽ giúp ích cho người Việt tiếp cận với tục ngữ Anh từ phương diện ngôn ngữ và văn hóa trong quá trình học tiếng.

1. Khái niệm tục ngữ

1.1. Khái niệm tục ngữ ở Việt Nam

1.1.1. Khái niệm tục ngữ dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu văn học

Việt Nam, khi tìm hiểu về tục ngữ các nhà nghiên cứu văn học thường nêu ra một số đặc trưng sau đây:

Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ ca dao Việt Nam [56, tr. 39]:

“Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một lý luận, một công lý, có khi là một sự phê phán.”

Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Văn học dân gian Việt Nam, [26, tr.244]

“Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỉ.”

Bùi Mạnh Nhị, Tục ngữ// Văn học dân gian – những công trình nghiên cứu [ 48, tr. 254]:

“Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh và thường mang nhiều nghĩa, thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động sản xuất, xã hội), được nhân dân áp dụng vào đời sống, tư duy và lời ăn tiếng nói hàng ngày.”

+ Hoàng Tiến Tựu, Văn học dân gian Việt Nam  [77, tr.109]:

“tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, giản dị, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền”.

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu văn học dân gian đã tìm hiểu, đào sâu nghiên cứu tục ngữ ở cả phương diện nội dung và hình thức.Theo các ý kiến trên, nội dung của tục ngữ xoay quanh các kinh nghiệm, tri thức của dân gian; dưới hình thức một câu, ngắn gọn, súc tích, có vần điệu, giàu hình ảnh; do nhân dân lao động sáng tạo và lưu truyền qua nhiều thế kỷ. Những ý kiến trên đã đặt nền móng vững chắc cho một quan niệm đầy đủ về tục ngữ.

Để việc nghiên cứu nhất quán và hiệu quả, trong quá trình làm việc, chúng tôi xin dựa vào định nghĩa tục ngữ của Chu Xuân Diên và các tác giả khác trong tiểu luận về “tục ngữ Việt Nam”. Trước hết, quan niệm này đã cho người đọc cái nhìn bao quát nhưng cụ thể về tục ngữ, cho thấy vai trò của tục ngữ trong việc phản ánh lối sống của con người trong từng thời đại, với lối nghĩ của nhân dân và lối nói của dân tộc. Đó “là sản phẩm của sự nhận thức của nhân dân về các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan, chứa đựng và phản ánh tri thức của nhân dân”, có chức năng “làm phong phú thêm những kinh nghiệm sống của con người, từ đó xác định cho con người những phương châm xử thế phù hợp”, với lối nói “có hình ảnh”, “hàm súc”, “bằng một hình thái tu từ” và“bằng ngôn ngữ thẩm ỹĩ”. [12, tr.172]

1.1.2. Khái niệm tục ngữ dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học

Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học cho ta góc nhìn khác về tục ngữ. Cù Đình Tú trong “Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ và tục ngữ” [74, tr. 39 – 49] dựa vào tiêu chí chức năng cho rằng: “tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích, đều là các thông báo. Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới khách quan. Do vậy mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng. Đó cũng là lí do giải thích tục ngữ có cấu tạo là các kết cấu hai trung tâm”.

Đỗ Hữu Châu trong “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” [6, tr.72], dựa vào tiêu chí cấu tạo và ngữ nghĩa, cho rằng tục ngữ và thành ngữ được phân biệt trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy. Theo ông, thành ngữ biểu thị khái niệm, tục ngữ biểu thị phán đoán. “Nghĩa của thành ngữ tương đương với nghĩa của cụm từ…Nghĩa của tục ngữ là một phán đoán, một sự đánh giá, một sự khẳng định về một chân lí nào đó, nghĩa là một tư tưởng hoàn chỉnh”

Hoàng Văn Hành trong “Tục ngữ theo cách nhìn của ngữ nghĩa học” [22, tr. 59- 63] dựa vào tiêu chí cấu tạo và ngữ nghĩa, ông đã xem xét tục ngữ như một phức thể đa diện và quan niệm tục ngữ là câu thông điệp nghệ thuật: “Khi nói tục ngữ là những câu – thông điệp nghệ thuật là cùng một lúc chúng ta nhấn mạnh hai đặc trưng bản chất, không tách rời nhau của nó: Một là, tục ngữ là câu, nhưng là câu đặc biệt khác với mọi câu nói thông thường ở tư cách là làm thông điệp nghệ thuật”.

Trong một hướng tiếp cận khác, Nguyễn Thái Hòa (Tục ngữ Việt Nam – cấu trúc và thi pháp) khẳng định tục ngữ là loại “phát ngôn đặc biệt” [24, tr. 47 – 48]. Trong công trình của mình, tác giả đã xem xét tục ngữ trên các bình diện thể chất, cấu trúc và chức năng. Ông kết luận:  

+ Tục ngữ là những phát ngôn hình thành trong lời thoại hàng ngày. Đó là những đơn vị lời nói nhưng tồn tại trong ký ức cộng đồng như là một đơn vị ngôn ngữ, nói như J.Lyons là “những phát ngôn làm sẵn”.

Giữa thành ngữ (cụm từ cố định) là đơn vị cơ bản của phát ngôn và tục ngữ (những phát ngôn làm sẵn) có những hình thức trung gian cũng như giữa tục ngữ và ca dao cũng tồn tại những hình thức trung gian tương đồng về chức năng và cấu trúc. Nhưng những hình thức trung gian ấy là chỗ “giáp ranh thú vị” (R. Jakobson) không lớn so với tổng số tục ngữ khảo sát.

Gọi là “những phát ngôn làm sẵn” có thể nhầm lẫn với một số phát ngôn làm sẵn khác tồn tại trong lời nói, chưa phản ánh đầy đủ những đặc trưng của tục ngữ. Vì vậy, chúng tôi quan niệm tục ngữ là những phát ngôn đặc biệt – hình thành từ trong lời thoại hàng ngày nhưng tồn tại như một đơn vị ngôn ngữ, (…) có cơ cấu ngữ nghĩa cú pháp đa dạng, có khuôn hình cố định, làm cơ sở cho sự tái hiện, lưu giữ và sản sinh những kiểu nói tục ngữ. [24, tr. 72]

Nhìn chung, theo các nhà ngôn ngữ, tục ngữ là những phát ngôn làm sẵn, diễn đạt một tư tưởng hoàn chỉnh, có chức năng thông báo với cấu tạo cố định, tương đương với một phán đoán trọn vẹn.

Trên bình diện ngôn ngữ, quan điểm về tục ngữ của Chu Xuân Diên trong quyển “tục ngữ Việt Nam” mà người viết chọn làm cơ sở để tiến hành việc nghiên cứu của mình, cũng rất gần với quan điểm của các nhà ngôn ngữ học khi cho rằng tục ngữ “là một đơn vị thông báo”, “đơn vị câu độc lập”, “là loại câu cố định về thành phần và cấu trúc, bền vững về ngữ nghĩa”, nội dung của tục ngữ “được diễn đạt thông qua những tư tưởng khẳng định hoặc phủ định của các phán đoán”, “được tái hiện dưới dạng làm sẵn khi được sử dụng trong lời nói”, “tục ngữ thoạt tiên và trước hết thuộc ngôn ngữ nói” [12, tr. 119, 158, 159].

1.2. Khái niệm về tục ngữ ở Anh

Theo Wolfgang Mieder trong “Proverbs are out of season” (Oxford University Press, 1993), tục ngữ là “những câu nói ngắn gọn, được phổ biến rộng rãi của dân gian thể hiện sự thông thái, chân lý, đạo đức và những quan niệm truyền thống dưới hình thức ẩn dụ, cố định và dễ nhớ, nó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”. (10) [97]

Từ điển tục ngữ Oxford (The Oxford dictionary of proverbs, 2007) bổ sung thêm: tục ngữ là những câu nói phổ biến và cổ xưa được lặp đi lặp lại, đặc biệt chúng thường ngắn và diễn tả một cách sinh động thực tiễn, hoặc những kinh nghiệm, quan sát. (11) [100]

Nhà nghiên cứu Richard L. Berry thì quan niệm: tục ngữ là những câu nói ngắn gọn chứa đựng sự thông thái hoặc diễn đạt những kinh nghiệm cụ thể, rõ ràng. Chúng chứa đựng rất nhiều giá trị văn hóa của con người. tục ngữ Anh được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm văn học viết, văn học dân gian, kinh thánh, lịch sử và kinh nghiệm thông thường. Chúng rất có giá trị và là chìa khóa để hiểu người Anh.(12)

Theo từ điển bách khoa toàn thư trên mạng, trang tiếng Anh (http://en.wikipedia.org), khái niệm “tục ngữ” (proverb) có nguồn gốc từ tiếng Latinh “proverbium”(13). “Đó là những câu nói ngắn gọn, cụ thể được phổ biến rộng rãi và được lặp đi lặp lại, thể hiện chân lý dựa vào các giác quan thông thường hay những kinh nghiệm thực tiễn của loài người.”

Sau khi thống kê lại, người viết thấy quan niệm về tục ngữ của người Việt và người Anh tương đối giống nhau chứ không có sự khác biệt quá lớn: đó là những câu nói ngắn gọn, sinh động, có ý nghĩa khái quát, có tính truyền thống, nhằm truyền đạt kinh nghiệm của người xưa.

Nhìn chung, người Việt và người Anh đều có kho tàng phong phú về tục ngữ của dân tộc mình. Ở Việt Nam, công trình sưu tầm giới thiệu tục ngữ đồ sộ nhất là quyển “Kho tàng tục ngữ người Việt” của Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Luân, Nguyễn Thúy Loan, Phan Lan Hương [29]. Đây là công trình giới thiệu tục ngữ với số câu nhiều nhất – 16.098 câu (có trong 52 đầu sách – 63 tập, trong đó cuốn xuất bản sớm nhất là năm 1896, và mới nhất được in năm 1999), có ghi xuất xứ và các dị bản trong trường hợp một câu có nhiều bản. Về tục ngữ Anh, hiện nay cuốn từ điển đầy đủ nhất, đồ sộ nhất là quyển “The Oxford dictionary of English proverbs” của Smith William George, Wilson F.P., Wilson Joanna [106]. Sách dày 950 trang, bao gồm khoảng 10540 câu tục ngữ Anh. Như vậy, kho tàng tục ngữ của người Việt và người Anh quả là giàu có.

Nội dung của tục ngữ Việt và tục ngữ Anh cũng rất phong phú, đa dạng, bao quát hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống. Đó có thể là các kinh nghiệm của dân gian về thiên nhiên, lao động sản xuất, về các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội, các quan niệm về nhân sinh, tôn giáo, tín ngưỡng,…Nhìn chung, đề tài của tục ngữ Việt và tục ngữ vô cùng rộng lớn, bất cứ lĩnh vực nào dân gian khi có kinh nghiệm đều có thể đúc kết thành tục ngữ.

Về phương diện nghệ thuật, tục ngữ Anh và Việt đều mang tính chất ngắn gọn, súc tích, đa nghĩa với lối nói giàu hình ảnh thông qua các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa,… Tuy nhiên, do tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập nên tục ngữ Việt rất giàu nhạc tính với vần, nhịp và sự hòa đối. Còn tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình, đa âm tiết nên tục ngữ của họ không có đặc điểm này mà chỉ là những lời nói bình thường, gần với phong cách của văn học viết. Về hình thức, tục ngữ Việt có thể gồm một, hai hoặc ba vế trở lên, trong đó nhiều nhất là loại câu có hai vế với kết cấu đối xứng, nhịp nhàng, giàu nhạc điệu. Trong khi đó, tục ngữ Anh chủ yếu gồm một mệnh đề độc lập, chứa một phán đoán duy nhất.

Tóm lại, từ những bài học triết lí khô khan, tục ngữ Việt và Anh trở nên hấp dẫn hơn và đi vào lòng người một cách dễ dàng là do nhiều nguyên nhân, trong đó có đóng góp không hề nhỏ của biện pháp so sánh tu từ.

2. So sánh tu từ trong tục ngữ  

Cách đây gần 2500 năm, Aristote (384 – 322 trước công nguyên) trong cuốn “Nghệ thuật thi ca” nổi tiếng đã đề cập đến phép tu từ so sánh. Hégel (1770 – 1831) trong cuốn “Mĩ học” cũng có bàn luận về so sánh.

2.1. Khái niệm so sánh tu từ

Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam, “so sánh” là lối đối chiếu hai hay nhiều đối tượng có dấu hiệu giống và khác nhau về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong. Cách nói này nhằm mục đích giải thích, miêu tả, đánh giá hoặc biểu lộ tình cảm về đối tượng được nói đến. Nhờ so sánh, ta thấy rõ bản chất của sự vật, hiện tượng được phản ánh. Đây là hình thức rất phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, vì nó giúp người nghe hiểu điều mình muốn nói một cách nhanh chóng.

Còn “tu từ”, theo nghĩa từ nguyên Hán Việt, “tu” là sửa chữa cho hay, cho tốt đẹp hơn, “từ” là từ ngữ, lời nói, câu viết. Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (Viện ngôn ngữ học, 2002, tr. 1059), “tu từ” là những thuộc tính biểu cảm của các phương tiện ngôn ngữ, giúp lời văn hay hơn, đẹp hơn.

phương Tây, người ta dùng khái niệm tương đồng là “figura”, có nguồn gốc từ tiếng Latinh. “Figura” có nghĩa là bóng bẩy, có sức hấp dẫn, lôi cuốn. “Figura” được các nhà nghiên cứu văn học ở Việt Nam dịch ra thành nhiều thuật ngữ khác nhau như biện pháp tu từ, mỹ từ pháp,…Với tư cách là một thuật ngữ khoa học, “figura” được xem là những cách thức diễn đạt bóng bẩy, gợi cảm, có sức hấp dẫn, lôi cuốn khi trình bày.

Về khái niệm so sánh tu từ, Cù Đình Tú trong Phong cách học tiếng Việt cho rằng: “so sánh tu từ là sự đối chiếu hai sự vật (về tính chất, trạng thái, sự việc) A và B cùng có một dấu hiệu chung nào đấy giống nhau. A là sự vật chưa biết, nhờ qua B mà người đọc biết A hoặc hiểu thêm về A (…)

So sánh tu từ còn gọi là so sánh hình ảnh, đó là một sự so sánh không đồng loại, không cùng một phạm trù chung, miễn là có một nét tương đồng nào đó về mặt nhận thức hay tâm lý (thí dụ: con mắt và ngôi sao, trái tim đau thương và một cái cốc vỡ). Đó là một sự so sánh có giá trị hình tượng và giá trị biểu cảm”. [73, tr. 100 – 103]

Đinh Trọng Lạc trong“99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” cũng quan niệm tương tự: “So sánh (còn gọi là so sánh hình ảnh, so sánh tu từ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng.” [31, tr. 154 – 159]  

Chẳng hạn trong câu tục ngữ “Người ta hoa đất”, con người được so sánh với một hình ảnh cụ thể là “hoa” dựa trên cơ sở mối quan hệ tương đồng: con người và hoa đều là tinh túy của đất trời, đều là cái đẹp cần được nâng niu. Hai sự vật được đem ra so sánh ở đây hoàn toàn khác loại: người và hoa. Chính hình ảnh hoa đã nâng cảm xúc thẩm mỹ vượt lên mức thông thường.

Như vậy, so sánh tu từ (hay còn gọi là so sánh nghệ thuật, so sánh văn chương, so sánh hình ảnh) chính là “đôi cánh giúp chúng ta bay vào thế giới của cái đẹp, của tưởng tượng hơn là đến ngưỡng của logic học.”[30]

Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu Anh, Richard L. Berry cho rằng: so sánh tu từ (14)  được sử dụng khi chúng ta muốn nói cái này giống cái kia.

Chúng được giới thiệu bởi các từ: “like”, “as..as..”. Có nhiều giá trị văn hóa tồn tại trong so sánh tu từ.

Theo Từ điển ngôn ngữ tiếng Anh, so sánh tu từ là 1 hình thái của lời nói mà trong đó hai sự vật khác nhau được mang ra so sánh trong một cụm từ được giới thiệu bằng “like” hoặc “as”. (15)[88]

Chẳng hạn như câu:

Curses, like chickens, come home to roost (Những lời nguyền rủa giống như lũ gà lại quay về chuồng nhà mình mà đậu.)

Lời nguyền rủa và lũ gà là hai sự vật hiện tượng khác loại, nhưng dân gian đã phát hiện ra điểm giống nhau giữa chúng: gà quay về chuồng của mình mà đậu cũng như lời nguyền rủa sẽ quay về làm hại chính chủ nhân của nó – sự độc ác lại rơi xuống đầu của những kẻ độc ác!

Tóm lại, với các nhà ngôn ngữ ở Anh, tiêu biểu là Bredin Hugh, so sánh tu từ là biện pháp tu từ ngữ nghĩa dựa vào sự đối chiếu, là quá trình tư duy quan trọng khi chúng ta suy nghĩ và phát ngôn về thế giới chung quanh. (16) [ 84]

Nhìn chung, quan niệm của các nhà nghiên cứu về so sánh tu từ không có sự khác biệt nào quá lớn. Để nhất quán trong quá trình làm việc, người viết xin chọn quan điểm của Cù Đình Tú về so sánh tu từ để làm cơ sở cho việc khảo sát.

Về việc phân biệt so sánh tu từ với so sánh logic, ta thấy so sánh trong tục ngữ thuộc hai dạng: so sánh logic (còn được gọi là so sánh luận lí, so sánh định lượng) và so sánh tu từ (còn được gọi là so sánh hình ảnh, so sánh văn chương).

Cù Đình Tú cho rằng trong phép so sánh luận lí, “cái được so sánh và cái so sánh là đối tượng cùng loại và mục đích của sự so sánh là xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng. Trong so sánh tu từ tình hình diễn ra có khác. Các đối tượng được đưa ra so sánh là các đối tượng khác loại và mục đích của phép so sánh là nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng. Muốn nhấn mạnh vào tính chất này có nhà ngôn ngữ học dùng thuật ngữ “so sánh hình ảnh”. Chính do mục đích diễn tả một cách hình ảnh này mà các phép so sánh tu từ ít nhiều đều khập khiễng, đều mang tính chất khoa trương.” [72, tr. 272]

Đinh Trọng Lạc cũng phân biệt rất rạch ròi hai khái niệm này trong quyển “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” của mình. Tác giả khẳng định: “trong so sánh luận lí, cái được so sánh và cái so sánh là các đối tượng cùng loại và mục đích của sự so sánh là xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng”. Chẳng hạn, so sánh tu từ: “Mặt tươi như hoa”, còn so sánh luận lí: “Mặt con cũng tròn như mặt mẹ”. [31]

Như vậy, những câu tục ngữ mà đối tượng đưa ra so sánh là đồng loại kiểu như: “Lệnh ông không bằng cồng bà”; “Thuốc không hay bằng thang”; “Ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại”; “Nhất thủ, nhì vĩ”; …không thuộc phạm vi khảo sát của luận văn. Các câu so sánh logic này chỉ phản ánh một kinh nghiệm, một quan niệm dựa trên cơ sở xác định sự hơn thua giữa các đối tượng. Còn những câu tục ngữ được cấu tạo bằng biện pháp so sánh mà trong đó, các đối tượng được đưa ra so sánh là khác loại, dựa trên cơ sở liên tưởng tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của đối tượng này thông qua đặc điểm, thuộc tính của đối tượng kia một cách hình tượng mới chính là đối tượng nghiên cứu của luận văn. Chúng được sử dụng rất phổ biến trong tục ngữ, phản ánh cách tư duy, lối nghĩ của nhân dân.

Tóm lại, so sánh tu từ khác với so sánh logic ở:

+ Tính dị loại (không cùng 1 loại) của sự vật hiện tượng.

+ Tính hình tượng, tính biểu cảm

Chỉ có so sánh tu từ mới đem lại xúc cảm thẩm mĩ, là cơ sở để người ta có thể nhận ra những nét riêng của người sử dụng. Do đó, chúng cần được khảo sát.

2.2. Cấu trúc của so sánh tu từ

Theo Hoàng Văn Hành trong “Về bản chất của thành ngữ so sánh tiếng Việt” [21], Nguyễn Thị Bích Thủy trong “Cấu trúc tỉ dụ trong thơ Tố Hữu” [69], một so sánh tu từ nói chung có thể gồm đến 5 yếu tố ở dạng đầy đủ:

A  (t1)  như B (t2)

Trong đó, A là yếu tố cần so sánh, tức cái được hay bị so sánh; t1 là thuộc tính của A; B là cái dùng làm chuẩn để so sánh, hay còn được gọi là cái so sánh; t2 là thuộc tính của B; “như” là từ thể hiện quan hệ so sánh.

Các nhà nghiên cứu khác thì cho rằng t1 và t2 ở cấu trúc so sánh có 5 thành tố là thuộc tính riêng của A và B, mà khi đã hình thành cấu trúc so sánh thì giữa A và B phải có ít nhất 1 thuộc tính trở thành thuộc tính chung – chính điểm chung này làm nảy sinh mối liên tưởng tương đồng – chứ không phải thuộc tính của sự vật nào vẫn đi với sự vật ấy. Do đó, mô hình trên chưa chỉ ra được đâu là thuộc tính chung, làm cơ sở cho sự so sánh.

Lê Trường Phát trong Thi pháp văn học dân gian [57, tr.114] thì quan niệm so sánh tu từ chỉ gồm 2 yếu tố: “Về phương diện cấu trúc, so sánh thường được thể hiện bằng hai vế. Vế đầu là hiện tượng cần được biểu đạt (cái được biểu đạt) một cách hình tượng. Vế sau là hiện tượng dùng để so sánh (cái biểu đạt).”

Trước đây, trong sách Tiếng Việt dạy học sinh lớp 6 của nhà xuất bản Giáo dục, 1995 [1], mô hình so sánh chỉ gồm 3 yếu tố: A – từ so sánh – B. Yếu tố CSSS nếu có xuất hiện thì bị đẩy về A, coi đó là thuộc tính của A. Việc hướng dẫn học sinh chỉ quan tâm đến những sự vật nào, hình ảnh nào được so sánh với nhau mà không hỏi xem các sự vật đó có tính chất, trạng thái gì chung là một thiếu sót lớn. Chỉ khi nào biết được những tính chất, trạng thái chung đó thì mới hiểu được vì sao những sự vật tưởng chừng như xa lạ lại có thể đem so sánh với nhau, mang lại bao xúc cảm và nhận thức trong lòng người tiếp nhận.

Còn một số tác giả khác như Nguyễn Thế Lịch [ 36], Cù Đình Tú [72], Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa [ 30], Đỗ Thị Kim Liên [37] cho rằng các so sánh tu từ bao gồm 4 yếu tố cơ bản ở dạng đầy đủ (cái được/bị so sánh, cái so sánh, CSSS, từ so sánh), tùy hoàn cảnh, mục đích sử dụng mà số lượng các yếu tố có thể bớt đi. Trong khi các tác giả khác cho rằng so sánh gồm hai yếu tố (yếu tố được so sánh – yếu tố so sánh) hay ba yếu tố (yếu tố được/bị so sánh – từ so sánh – yếu tố so sánh) đều không tách ra một thành phần của cấu trúc so sánh là yếu tố CSSS, đều cho thuộc tính được nói đến hay ngầm ẩn thuộc yếu tố được/ bị so sánh (A) thì việc phân tích cấu trúc so sánh thành 4 yếu tố đã làm hiện ra CSSS, hiện ra thuộc tính chung giữa các sự vật đem so sánh với nhau. Yếu tố CSSS nhất thiết phải có, nếu không xuất hiện ở dạng hiển ngôn thì ở dạng ngầm ẩn.

Khi viết về so sánh tu từ trong tiếng Anh, Patrizia Pierini [103] quan niệm cấu trúc của một so sánh tu từ gồm ba phần: chủ thể (thực thể được miêu tả), phương tiện (thực thể đem ra so sánh với chủ đề), chúng liên kết với nhau bằng từ thể hiện quan hệ so sánh. Còn điểm tương đồng (thuộc tính chung giữa chủ thể và phương tiện so sánh) có thể được đề cập rõ ràng hoặc ẩn đi.(17) Quan niệm này về cơ bản cũng chỉ ra được 4 yếu tố của cấu trúc so sánh tu từ ở dạng đầy đủ.

Như vậy, ta sẽ có mô hình cấu trúc của so sánh tu từ như sau:

Cấu trúc đầy đủ của so sánh tu từ

Cấu trúc đầy đủ của so sánh tu từ

Yếu tố được/ bị so sánh (kí hiệu là A) có thể là 1 từ, 1 ngữ hoặc nhiều cấu trúc chủ vị.

Yếu tố so sánh (kí hiệu là B) hay còn gọi là yếu tố đưa ra làm chuẩn để so sánh cũng được thể hiện bằng một từ, một ngữ, một hoặc nhiều cấu trúc chủ vị. Một yếu tố được/ bị so sánh có thể tương ứng với nhiều yếu tố so sánh, chẳng hạn: “Gái có chồng như chông như mác/ Gái không chồng như rác như rơm.”

CSSS (t) – nét tương đồng giữa yếu tố được so sánh và yếu tố chuẩn để so sánh – có thể được nêu ra hoặc giấu đi. Khi CSSS được nêu ra, các nhà ngôn ngữ học gọi đây là so sánh tu từ nổi, nếu nó bị giấu đi, ta có so sánh tu từ chìm. Mà dù có được nêu ra, nó vẫn luôn chứa đựng những liên tưởng vô tận khác ở người đọc.

Từ so sánh là từ nối yếu tố A và B, thể hiện quan hệ so sánh.

Như vậy, mô hình đầy đủ của so sánh tu từ là:

A – Cở sở so sánh – Từ so sánh – B

Tùy trường hợp mà trật tự của các yếu tố có thể thay đổi hoặc bớt đi một số yếu tố trong mô hình trên.

Cái hay, giá trị đặc biệt của một so sánh chính là việc lựa chọn yếu tố so sánh. Một so sánh mới lạ nhưng vẫn đủ để cho phép người đọc có thể phát hiện ra nét tương đồng giữa nó với yếu tố được so sánh là một so sánh hay. Từ đó, chúng ta sẽ có thêm nhận thức mới, sâu sắc hơn về đối tượng và cả thái độ, tình cảm của dân gian với đối tượng ấy nữa. Chẳng hạn trong câu:

Phải duyên thì dính như keo

Trái duyên chổng chểnh như kèo đục vênh.

Theo Cù Đình Tú trong Phong cách học TV, sự gắn bó của tình yêu so sánh với sự gắn bó của keo với nhau hay của keo với một vật khác thì đó là một sự so sánh không phải không hay, vì người so sánh đã phát hiện rất đúng đắn nét giống nhau giữa hai đối tượng khác loại (tình yêu và keo), nhưng cách so sánh này không thật mới mẻ, bất ngờ. Khi dân gian so sánh sự không gắn bó của tình yêu với sự nghễnh ngãng của cái kèo nhà bị đục vênh thì quả là một sự so sánh vừa độc đáo vừa mang sắc thái dân tộc, vì cách so sánh này không phải dễ nhận thấy, dễ phát hiện, cho nên nó luôn mới mẻ, gợi hình, gợi cảm. Phép so sánh ở đây mộc mạc, chân chất, chính xác và pha màu hài hước của trí tuệ dân gian. [73, tr. 102]

2.3. Tác dụng của so sánh tu từ

So sánh tu từ trong tục ngữ giúp ta hiểu tường tận, sâu sắc hơn về môi trường cảnh quan, cuộc sống, xã hội, con người,…, đặc biệt là những vấn đề trừu tượng, vô hình, khó nắm bắt. Chẳng hạn trong câu “Đời người như ngọn nến”, đời người, kiếp người là một khái niệm mơ hồ, trừu tượng, khó nắm bắt. Tác giả dân gian đã cụ thể hóa bằng cách ví nó như một ngọn nến vì cả hai đều ngắn ngủi, yếu ớt, chóng tàn.

Đôi lúc so sánh tu từ còn nhằm khái quát hóa, quy luật hóa điều được nêu lên, nghiêng về nhận thức lý trí. Ở câu “Hatred is a blind as love” (Oán thù cũng mù như tình yêu), cái cần so sánh và cái dùng để so sánh đều là cái trừu tượng, tuy khác loại nhưng cùng thuộc phạm trù tinh thần. Câu tục ngữ không thiên về hướng cụ thể hóa như ở trên mà thiên về hướng khái quát hóa: oán thù và tình yêu giống nhau vì đều mù quáng, không sáng suốt.

Ngoài ra, so sánh tu từ còn cung cấp thêm thông tin về đặc trưng văn hóa, quan niệm thẩm mỹ và trình độ nhận thức của người sáng tạo. Chẳng hạn, khi nói về tầm quan trọng của lương thực, người Việt ví von “Cơm tẻ, mẹ ruột”, người Anh thì nói khác: “Bread is the staff of life” (Bánh mì là chiếc gậy của cuộc sống). Hình ảnh cơm của người Việt và bánh mì của người Anh đã hé mở cho ta thấy sự khác biệt giữa hai phương thức sản xuất, hai nền văn hóa.

Không chỉ miêu tả đối tượng, so sánh tu từ còn bao gồm cả sự giải thích, đánh giá và biểu lộ tình cảm. Chẳng hạn trong câu “Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ”, hình ảnh so sánh ở đây thể hiện thái độ bình giá rõ rệt của nhân dân: phê phán, đả kích, châm biếm.

Khi nói về tác dụng của so sánh tu từ, Patrizia Pierini [103] quan niệm so sánh tu từ sẽ giúp việc giao tiếp súc tích và hiệu quả, chúng là một trong những công cụ của ngôn ngữ học (các biện pháp tu từ) nhằm mở rộng nguồn tài nguyên đa dạng về ngôn ngữ. Ngoài ra, so sánh tu từ còn có chức năng như một công cụ tri nhận giúp chúng ta bay vào thế giới của sự tưởng tượng thông qua cách thiết lập sự tương đồng. Trong các văn bản văn học, so sánh tu từ còn có chức năng thẩm mỹ, là những cách nói sáng tạo, đầy bất ngờ về các sự vật, hiện tượng. (18)

Như vậy, tìm hiểu so sánh tu từ cũng đồng nghĩa với việc bước vào thế giới nghệ thuật độc đáo, giàu hình tượng, giàu cảm xúc của tục ngữ Việt và Anh. Sự hấp dẫn, cái hay cái đẹp của nội dung và hình thức phép so sánh tu từ đã góp phần làm cho tục ngữ trở thành những tác phẩm nghệ thuật đích thực.

3. Tài liệu tham khảo

  1. Diệp Quang Ban, Lê Xuân Thại (1995), Tiếng Việt 6, tập II, Sách giáo viên, Nxb. GD, TP.HCM.
  2. Trần Vĩnh Bảo (2005), Một vòng quanh các nước: Anh, Nxb. Văn hóa thông tin, HN.
  3. Lê Đình Bích, Trần Quỳnh Dân (1986), TN Anh – Việt, Đại học Cần Thơ.
  4. Phạm Văn Bình (1999), Truyền thống và phong tục nước Anh, Nxb. Hải Phòng.
  5. PGS.TS. Phan Mậu Cảnh (2008), Đặc trưng văn hóa, cội nguồn văn hóa và sự thể hiện chúng trong ca dao người Việt, Vinh. Nguồn: www.vienvhnn.net
  6. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb. GD, HN.
  7. Nguyễn Văn Chiến (2002), “Nước – một biểu tượng văn hóa đặc thù trong tâm thức người Việt và từ “nước” trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, số 15, tr. 41 – 49.
  8. Trần Văn Cơ (2007), Ngôn ngữ học tri nhận – ghi chép và suy nghĩ, Nxb. KHXH, HN.
  9. Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thị Yên (1983), “Thang độ, phép so sánh và sự phủ định”, Ngôn ngữ, số 3, tr.21 – 29.
  10. Nguyễn Đức Dân (1999), “Dấu ấn văn hoá qua TN”, Kiến thức ngày nay, số 329.
  11. Nguyễn Đức Dân (2002), Nỗi oan thì, mà, là, Nxb. Trẻ, TP.HCM.
  12. Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri (1993), TN Việt Nam  
  13. Đặng Anh Đào (CB) (1997), Văn học phương Tây, Nxb. GD, HN.
  14. Phan Thị Đào (2001), Tìm hiểu thi pháp TN Việt Nam (Giải thưởng Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam 1997), Nxb. Thuận Hóa, Huế.
  15. Hoàng Minh Đạo (2006), “Tiếp cận TN từ góc độ văn hóa học”, Văn hóa dân gian, số 1(103).
  16. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb. KHXH, HN.
  17. Nguyễn Thị Vân Đông (2008), “Một số biểu hiện của văn hóa qua các thành ngữ TN có từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Anh và tiếng Việt”, Ngôn ngữ & đời sống, số 10, tr. 28 – 31.
  18. Gerd De Ley, Lê Thành dịch (2005), Từ điển TN thế giới, Nxb. Lao động, HN.
  19. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb. ĐH & THCN, HN.
  20. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb. ĐHQG HN, HN.
  21. Hoàng Văn Hành (1976), “Về bản chất của thành ngữ so sánh tiếng Việt”, Ngôn ngữ, số 1.
  22. Hoàng Văn Hành (1980), TN trong cách nhìn của ngữ nghĩa học, Ngôn ngữ, số 4, tr.59 – 63.
  23. Hoàng Văn Hành (2004), Thành ngữ học tiếng Việt, Viện ngôn ngữ
  24. Nguyễn Thái Hoà (1997), TN Việt Nam – cấu trúc và thi pháp, Nxb. KHXH, HN.
  25. Nguyễn Thượng Hùng (1991), “So sánh TN Anh, Việt trong quá trình hình thành và phát triển”, Văn hóa dân gian, số 4, tr. 71 – 73.
  26. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (2002), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb. GD, HN.  
  27. Vũ Ngọc Khánh (2007), Nghiên cứu văn hóa cổ truyền Việt Nam, Nxb. GD, TP.HCM.
  28. Lưu Quý Khương (2003), “So sánh logic và so sánh tu từ”, Ngôn ngữ, số 6.
  29. Nguyễn Xuân Kính,  Nguyễn Luân, Nguyễn Thúy Loan,  Phan Lan Hương (2002), Kho tàng TN người Việt (2 tập), Nxb. VHTT, HN.
  30. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2004), Phong cách học tiếng Việt, Nxb. GD, TP.HCM.
  31. Đinh Trọng Lạc (1998), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb. GD, TP.HCM, tr.157 – 159.
  32. Ly Lan (2009), Biểu trưng tình cảm bằng các bộ phận cơ thể từ góc nhìn tri nhận của người bản ngữ tiếng Anh và tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 12, tr. 25-36.
  33. Nguyễn Lân (2007), Từ điển thành ngữ – TN Việt Nam, Nxb. KHXH, TP.HCM.
  34. Nguyễn Thế Lịch (1988), “Các yếu tố và cấu trúc so sánh nghệ thuật”, Tiếng Việt (Số phụ của tạp chí Ngôn ngữ), số 1.
  35. Nguyễn Thế Lịch (2001), “Cấu trúc so sánh trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, số 8-9.
  36. Nguyễn Thế Lịch (2009), “Yếu tố cơ sở so sánh trong cấu trúc so sánh nghệ thuật”, Ngôn ngữ, số 3, tr. 1-13.
  37. Đỗ Thị Kim Liên (2006), “Khảo sát các TN Việt có nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc biểu thị quan hệ so sánh”, Ngôn ngữ, số 5.
  38. Đỗ Thị Kim Liên (2006), “Trường ngữ nghĩa về cây lúa và các sản phẩm từ lúa phản ánh đặc trưng văn hóa lúa nước trong TN người Việt”, Văn hóa dân gian, số 4 (106).
  39. Bùi Đức Mãn (2008), Lược sử nước Anh, Nxb. Tổng hợp TP.HCM.
  40. Michael Alexander, Cao Hùng Lynh dịch (2006), Lịch sử văn học Anh quốc, Nxb.VHTT, TP.HCM.
  41. Nguyễn Văn Mười (1996), Ngôn ngữ với việc phản ánh các yếu tố văn hóa và nhân sinh quan (thông qua TN Việt, Anh), Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Ngữ văn, Trường Đại học KHXH & NV, HN.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *