You are here: Home » Tin Tức » Một số vấn đề lý luận cơ bản về truyền thông marketing

Một số vấn đề lý luận cơ bản về truyền thông marketing

Một số vấn đề lý luận cơ bản về truyền thông marketing
Rate this post

Khái niệm và bản chất của truyền thông marketing. Nội dung cơ bản của truyền thông marketing. vai trò và mối quan hệ giữa truyền thông marketing với xúc tiến thương mại

Truyền thông marketing (marketing communication) là các hoạt động truyền thông tin một cách gián tiếp hay trực tiếp về sản phẩm và bản thân doanh nghiệp tới khách hàng nhằm thuyết phục họ tin tưởng vào doanh nghiệp cũng như sản phẩm, và mua sản phẩm của doanh nghiệp.

1. Khái quát về truyền thông marketing

1.1. Khái niệm và bản chất của truyền thông marketing                

Hiệp hội các đại lý quảng cáo của Mỹ đã đưa ra một định nghĩa về truyền thông Marketing như sau: “Truyền thông Marketing là khái niệm về sự hoạch định truyền thông Marketing nhằm xác định giá trị gia tăng của một kế hoạch tổng hợp, đánh giá vai trò chiến lược của các thành phần khác nhau trong truyền thông như: Quảng cáo, khuyến mại, quan hệ công chúng, bán hàng cá nhân và Marketing trực tiếp và sự kết hợp những thành phần này để tạo ra một sự truyền thông rõ ràng, nhất quán, hiệu quả tối đa”.

Theo Philip Kotler, truyền thông marketing (marketing communication) là các hoạt động truyền thông tin một cách gián tiếp hay trực tiếp về sản phẩm và bản thân doanh nghiệp tới khách hàng nhằm thuyết phục họ tin tưởng vào doanh nghiệp cũng như sản phẩm, và mua sản phẩm của doanh nghiệp.

(Marketing communications are the means by which firms attempt to inform,  persuade, and remind consumers, directly or indirectly, about the products and brands they sell-Philip Kotler).

Truyền thông marketing có các mục đích cơ bản là thông báo, thuyết  phục và nhắc nhở đối tượng nhận tin về sản phẩm và thương hiệu của doanh nghiệp. Qua các nội dung thông điệp, doanh nghiệp thông báo cho khách hàng về sự có mặt của doanh nghiệp, của sản phẩm trên thị trường, thuyết phục họ về các ưu việt của sản phẩm so với các sản phẩm cạnh tranh, và nhắc nhở họ nhớ đến sản phẩm khi có nhu cầu.

Thực chất của hoạt động truyền thông Marketing là việc sử dụng các  phương tiện để truyền thông tin liên lạc với thị trường và khách hàng mục tiêu nhằm thông báo cho biết về sự sẵn có của sản phẩm, thuyết phục họ sản phẩm này tốt hơn trên nhiều phương diện so với những sản phẩm cùng loại khác và nhắc họ mua thêm khi đã đang hết các sản phẩm đã mua. Khi các mục tiêu đã đạt được thì  đồng nghĩa rằng thị phần của công ty, số lượng hàng hoá tiêu thụ và doanh số bán sẽ được tăng lên.

Bản chất của truyền thông marketing là đại diện cho “tiếng nói” của thương hiệu, là phương cách để thiết lập sự đối thoại và xây dựng các quan hệ với người tiêu d ng. Bao gồm các thông điệp doanh nghiệp được thiết kế để khơi dậy sự nhận thức, sự quan tâm, và quyết định mua nhiều sản phẩm và thương hiệu khác nhau của khách hàng. Nó còn có thể là trang phục của nhân viên bán, giá cả, catalogue, và việc trình bày tại các văn phòng của doanh nghiệp…; tất cả đều tạo ấn tượng lên người nhận.

Các công cụ truyền thông Marketing

Những công ty kinh doanh hiện đại thường tổ chức điều hành một hệ thống công cụ truyền thông marketing phức tạp như quảng cáo cho sản phẩm, khuyếch trương sản phẩm, khuyến mại, kích thích tiêu thụ, quan hệ của công ty với môi trường kinh doanh… Nhưng nhìn chung, tất cả các hoạt động trong truyền thông marketing được sắp xếp vào một số công cụ chủ yếu là: quảng cáo, xúc tiến bán (khuyến mại), quan hệ công chúng (tuyên truyền), bán hàng cá nhân (bán hàng trực tiếp).

Các công cụ truyền thông marketing

Các công cụ truyền thông marketing

Quảng cáo (Advertising): Quảng cáo bao gồm mọi hình thức giới thiệu một cách gián tiếp và đề cao ý tưởng hàng hoá hay dịch vụ cụ thể mà được thực hiện theo yêu cầu của chủ thể quảng cáo và họ phải thanh toán các chi phí.

Quảng cáo thực chất là hoạt động sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng mà công ty thực hiện để giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của mình cho thị trường, khách hàng mục tiêu để có thể tạo được ấn tượng về sản phẩm của công ty đối với khách hàng. Quảng cáo truyền thông tin đến thị trường thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Các phương tiện này có thể là các phương tiện phát thanh (radio, tivi…), phương tiện in ấn (báo, tạp chí, ấn phẩm trực tiếp), các phương tiện ngoài trời, ngoài đường và một số phương tiện khác, và tuỳ theo mục tiêu quảng cáo mà họ có thể đưa ra các thông điệp với nội dung ph hợp với mục tiêu đó. Nếu họ  muốn tạo lập và duy trì hình ảnh của công ty trong nhận thức của khách hàng với mục tiêu đạt hiệu quả lâu dài hơn là việc tăng doanh số trước mắt, thì họ sẽ tập trung quảng cáo cho uy tín của mình. Nếu họ muốn thông tin cho khách hàng mục tiêu và hướng họ tới hành động mua thì họ sẽ tập trung vào quảng cáo sản phẩm. Tuy nhiên, việc thông qua các quyết định về quảng cáo còn phụ thuộc rất nhiều về các yếu tố khác như chu kỳ sống sản phẩm, chiến lược của công ty, chiến lược Marketing.

Doanh số (số lượng bán) tăng lên là một tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá hiệu  quả của quảng cáo. Song để có thể đánh giá hiệu quả của quảng cáo một cách toàn diện hơn thì người ta còn phải dựa vào những đại lượng trực tiếp khác như sự thay đổi tương ứng theo chiều hướng có lợi của người tiêu dùng về thái độ, tâm lý, tập tính…

Xúc tiến bán- khuyến mại: Xúc tiến bán là các biện pháp tác động tức thì, ngắn hạn để khuyến khích việc  mua sản phẩm hay dịch vụ. Xúc tiến bán hay còn gọi là khuyến mại có tác động trực tiếp và tích cực tới việc tăng doanh số bằng những lợi ích vật chất bổ sung cho người mua, nó có thể là thưởng, giảm giá, các hình thức vui chơi có thưởng…

Quảng cáo không có nghĩa là người tiêu d ng sẽ có phản ứng mua ngay, do vậy các hoạt động xúc tiến bán sẽ hỗ trợ cho hoạt động quảng cáo để khuyến khích, cổ vũ, thôi thúc họ đi đến hành động mua nhanh hơn.  Xuất phát từ mục tiêu chiến lược Marketing của công ty đối với sản phẩm hàng hoá ở thị trường mục tiêu để có thể xác định mục tiêu của xúc tiến bán:

– Đối với người tiêu dùng: khuyến khích họ tiêu dùng nhiều hơn, mua với số lượng lớn hơn và mở ra những khách hàng mới.

– Đối với các trung gian phân phối: khuyến khích lực lượng phân phối này tăng cường hoạt động phân phối hơn, đẩy mạnh các hoạt động mua bán, củng cố và mở rộng kênh phân phối, thực hiện dự trữ thị trường, phân phối thường xuyên, liên tục nhằm mở rộng thị trường.

Thực chất đây là công cụ kích thích để thúc đẩy các khâu cung ứng, phân phối và tiêu d ng đối với một hoặc một nhóm sản phẩm hàng hoá của công ty.

Bán hàng cá nhân: Không giống như quảng cáo hay xúc tiến bán, bán hàng cá nhân bao gồm những mối quan hệ trực tiếp giữa người bán và các khách hàng hiện tại cũng như khách hàng tiềm năng. Do vậy bán hàng cá nhân là sự giới thiệu bằng miệng về  hàng hoá hay dịch vụ của người bán hàng thông qua cuộc đối thoại với một hoặc nhiều khách hàng nhằm mục đích bán hàng.

Sử dụng hình thức bán hàng cá nhân có những ưu điểm riêng bởi các khách hàng có thể hiểu rõ hơn về sản phẩm. Khi đội ngũ bán hàng có trình độ cao, khách hàng sẽ được họ hướng dẫn rõ ràng về cách sử dụng cũng như chứng minh  một cách đầy đủ, thuyết phục về giá trị sản phẩm. Thêm vào đó, thông qua các hoạt động bán hàng, các nhân viên có thể thu được các thông tin của khách hàng về sản phẩm, công ty và đối thủ cạnh tranh một cách chính xác và nhanh nhất.

Quan hệ công chúng:

Quan hệ công chúng là kích thích một cách gián tiếp nhằm tăng nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ hay uy tín của một đơn vị kinh doanh bằng cách đưa ra những tin tức có ý nghĩa thương mại về chúng trên các ấn phẩm, các phương tiện thông tin đại chúng một cách thuận lợi và miễn phí.

Quan hệ công chúng là hình thức hoạt động tổ chức dư luận xã hội – dư luận thị trường. Hoạt động tổ chức dư luận xã hội có một số nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ bảo đảm cho công ty có danh tiếng tốt, hình ảnh tốt, xử lý các tin đồn, hình ảnh bất lợi đã lan truyền ra bên ngoài. Hoạt động này có thể thông qua các hình thức như bài phát biểu trực tiếp của người dẫn chương trình trong buổi họp hoặc gián tiếp thông qua các bài viết trên tạp chí. Nó có thể mang tính thương mại như bảo trợ các chương trình, hoạt động xã hội, thể thao…

* Nội dung quan hệ công chúng bao gồm:

– Tuyên truyền cho sản phẩm: gồm các nỗ lực khác nhau làm cho công chúng biết về một sản phẩm nào đó.

– Tuyên truyền hợp tác: hoạt động này bao gồm việc tuyên truyền trong nội bộ  cũng như bên ngoài để người ta hiểu về tổ chức của mình, nhằm tạo ra một hình ảnh tốt đẹp, tăng ưu thế của công ty.

– Vận động hành lang là việc giao tiếp với các nhà làm luật, quan chức nhà nước để ủng hộ hay cản trở một sắc luật nào đó.

– Tuyên truyền về xử lý một sự việc bất lợi cho công ty: đang lan truyền ra ngoài. Hoạt động tuyên truyền còn được thực hiện ở nhiều lĩnh vực nhằm giải quyết những công việc cụ thể do công ty đặt ra.

Quan hệ công chúng ít được sử dụng, song nó có tiềm năng hơn để tạo nên mức độ biết đến và sự ưa thích trên thị trường, xác định lại vị trí của sản phẩm và bảo vệ chúng.

Tuy nó là hoạt động miễn phí, song trên thực tế khi các công ty thực hiện hoạt động này, họ thường đầu tư một khoản tiền nhất định để duy trì mối quan hệ công chúng tốt đẹp với các cơ quan thông tin đại chúng.

Marketing trực tiếp

Marketing trực tiếp là việc sử dụng điện thoại, thư điện tử và những công cụ tiếp xúc khác (không phải là người) để giao tiếp và dẫn dụ một đáp ứng từ những  khách hàng riêng biệt hoặc tiềm năng.

Hiện nay, do sự phát triển của các phương tiện thông tin liên lạc, các doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều cách thức để giao dịch trực tiếp với khách hàng. Các nhà sản xuất, nhà bán lẻ, công ty dịch vụ, công ty bán hàng qua catalogue, và cả các tổ chức phi lợi nhuận đều sử dụng Marketing trực tiếp.

Marketing trực tiếp mang đến nhiều lợi ích cho người tiêu thụ. Những người đặt hàng qua kênh thư điện tử cho rằng mua hàng qua thư điện tử thì vui, tiện lợi, và không bị quấy rối (phiền nhiễu). Cách thức này tiết kiệm thời gian. Họ có thể lựa chọn tại nhà qua những catalogue giới thiệu về hàng hóa và những cách sống mới. Họ có thể nhận quà mà không cần rời nhà. Những khách hàng công nghiệp cũng có nhiều thuận lợi. Họ có thể hiểu biết nhiều sản phẩm và dịch vụ mà không cần tốn thời gian gặp nhân viên bán hàng.

Marketing trực tiếp đã cung cấp lợi ích cho người bán:

– Cách thức này có thể lựa chọn nhiều khách hàng tiềm năng tốt hơn.

– Thông điệp bán được cá nhân hóa và khách hàng hóa.

– Marketing trực tiếp có thể xây dựng những quan hệ liên tục với mỗi khách hàng.

– Có thể đến với khách hàng tiềm năng vào những thời điểm thích hợp và được tiếp nhận nhiều hơn.

– Qua Marketing trực tiếp có thể thử  nghiệm những thay đổi về cách quảng cáo, tiêu đề, giá, lợi ích,…

– Đối thủ cạnh tranh không xem được những chiến lược của công ty dành riêng cho khách hàng.

– Đánh giá được hiệu quả vì có thể đo lường phản ứng của khách hàng.

Mục tiêu của Marketing trực tiếp

Mục tiêu của Marketing trực tiếp muốn đạt được là làm khách hàng tiềm năng mua ngay. Sự thành công của một chiến dịch thể hiện qua tỷ lệ đáp ứng (response rate).

1.2. Vai trò và mối quan hệ giữa truyền thông marketing với xúc tiến thương mại

Truyền thông marketing là một thành tố quan trọng có vai trò hỗ trợ đắc lực cho các chiến lược marketing mix khác. Các chiến lược và chiến thuật marketing khác được xây dựng hoàn hảo sẽ giúp cho việc giảm bớt hoạt động truyền thông. Tuy nhiên, có rất ít các dịch vụ, chủ yếu là các dịch vụ được cung cấp trong môi trường cạnh tranh lại có thể bỏ qua được vai trò của truyền thông marketing. Hơn nữa, ngày nay chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng ngắn, cho nên quan điểm “hữu xạ tự nhiên hương” không còn ph hợp nữa. Thông qua chiến lược truyền thông marketing, doanh nghiệp thông tin cho khách hàng tiềm năng biết được những lợi thế, công dụng, giá trị, lợi ích của sản phẩm mang lại cho người tiêu dùng. Do vậy, chiến lược truyền thông marketing giúp doanh nghiệp tăng doanh số của các sản phẩm hiện tại, tạo ra sự nhận biết và ưa thích của khách hàng đối với sản phẩm mới, và xây dựng một hình ảnh tốt đẹp về doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần phải kết hợp chiến lược truyền thông với các thành tố khác của marketing hỗn hợp để tạo ra hiệu quả tổng hợp. Truyền thông cũng giúp cho doanh nghiệp quảng bá thương hiệu.

Trong nền kinh tế thị trường, các công ty và doanh nghiệp đều phải đối mặt với quy luật cạnh tranh gay gắt và sự đào thải tàn nhẫn nếu họ không xác định được cho mình một chiến lược sản xuất kinh doanh thích hợp.

Sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả phải chăng không có nghĩa là người tiêu dùng sẽ mua hàng ngay. Họ phải biết được sự tồn tại của sản phẩm, họ phải được giới thiệu khái quát về sản phẩm, những lí do mà sản phẩm ưu việt hơn so với các sản phẩm cùng loại khác và họ được thuyết phục nên mua những sản phẩm đó càng sớm càng tốt… Những công việc đó đòi hỏi phải thực hiện một chiến lược xúc tiến  hỗn hợp đúng đắn, phù hợp với khả năng của công ty, với các mục tiêu chung của công ty và mục tiêu Marketing nói riêng.

Một công ty khi có một chiến lược xúc tiến hỗn hợp thích ứng với thị trường sẽ thu được rất nhiều lợi ích không chỉ bằng việc tăng doanh số hay lượng bán. Họ sẽ tạo được và duy trì mối quan hệ công chúng tốt đẹp với khách hàng của mình, tạo nên sự ưa thích nhãn hiệu trong khách hàng và xây dựng một hình ảnh thuận lợi, tốt đẹp cho công ty.

Xúc tiến thương mại giúp cho công ty thực hiện các công việc như thúc đẩy  người tiêu dùng thử sản phẩm và tạo cơ hội để tự sản phẩm có thể truyền đạt thông tin một cách chính xác, khuyến khích các nguồn lực bên ngoài để họ có những  tuyên truyền tốt đẹp về sản phẩm cũng như công ty, tạo ấn tượng về sản phẩm cho khách hàng, nhắc nhở họ về những đặc tính và lợi ích mà sản phẩm mang lại, giúp cho công ty xây dựng và bảo vệ hình ảnh của mình cũng như sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng

2. Một số lý thuyết cơ sở của truyền thông marketing  

2.1. Lý thuyết mô hình quá trình truyền thông marketing

Muốn đạt hiệu quả trong truyền thông, các doanh nghiệp cần phải hiểu sự truyền thông hoạt động như thế nào, nắm được những yếu tố cơ bản truyền thông và các mối quan hệ của quá trình truyền thông.

Mô hình truyền thông gồm 9 phần tử. Hai phần tử thể hiện các bên chủ yếu tham gia truyền thông là người gửi và người nhận. Hai phần tử khác đại diện cho các công cụ truyền thống là thông điệp và truyền thông. Bốn yếu tố khác tiêu biểu cho chức năng truyền thông là mã hoá, giải mã, phản ứng đáp lại và thông tin phản hồi. Phần tử cuối c ng là hệ thống nhiễu.

Mô hình quá trình truyền thông

Mô hình quá trình truyền thông

Mô hình quá trình truyền thông này nhấn mạnh những yếu tố then chốt trong   hệ thống truyền thông có hiệu quả. Người gửi là chủ thể của truyền thông phải biết thông tin gửi đến khách hàng nào và muốn có phản ứng đáp ứng lại như thế nào. Mã hóa thông điệp là tiến trình chuyển ý tưởng và thông tin có tính biểu tượng biến   thông tin thành lời nói, chữ viết, hình ảnh để khách hàng mục tiêu có thể nhận thức được.

Để đảm bảo thông điệp có hiệu quả, quá trình mã hoá của người gửi phải ăn khớp với quá trình mã hoá của người nhận. Thông điệp về cơ bản phải là những tín hiệu quen thuộc đối với người nhận thì thông điệp càng có hiệu quả. Nhiệm vụ của người gửi là đưa được thông tin của mình đến người nhận trong môi trường có rất nhiều nhiễu vì người ta bị tác động của hàng trăm thông điệp thương mại mỗi ngày và khách hàng mục tiêu có thể không nhận được thông điệp gửi đến vì người nhận chỉ nhớ một phần nhỏ thông điệp truyền đến họ. Do vậy người gửi truyền thông phải thiết kế thông điệp làm sao để nó vẫn thu hút được sự chú ý mặc dù xung quanh có nhiều tác nhân làm phân tán. Tùy từng hình thức truyền thông mà nội dung thông điệp có sự khác nhau. Một thông điệp trên truyền hình có thể là sự phối hợp cả hình ảnh, âm thanh, lời nói.

Phương tiện truyền thông là các kênh truyền thông qua đó thông điệp được truyền từ người gửi tới người nhận. Phương tiện truyền tin có thể là các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình, phát thanh hoặc là các mạng truyền thông xã hội trên nền tảng là các dịch vụ trực tuyến, với mục đích tập trung các  thông tin có giá trị của những người tham gia.

Giải mã là tiến trình theo đó người nhận xử lý thông điệp để nhận tin và tìm hiểu ý tưởng của chủ thể (người gửi).

Người nhận là đối tượng nhận tin, nhận thông điệp do chủ thể gửi tới, và là  khách hàng mục tiêu của công ty.

Phản ứng đáp lại là tập hợp những phản ứng mà người nhận có được sau khi  tiếp nhận và xử lý thông điệp. Những phản ứng tích cực mà chủ thể truyền thông  mong muốn là hiểu, tin tưởng và hành động mua.

Phản hồi hay hồi đáp là một phần sự phản ứng của người nhận được truyền thông trở lại cho chủ thể (người gửi). Thông tin phản hồi có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Một chương trình truyền thông hiệu quả thường có những thông tin phản hồi tốt trở lại chủ thể.

Nhiễu tạp hay nhiễu thông tin là tình trạng biến lệnh ngoài dự kiến do các yếu tố môi trường trong quá trình truyền thông làm cho thông tin đến với người nhận không trung thực với thông điệp gửi đi.

Sơ đồ trên nhấn mạnh những yếu tố chủ yếu trong sự truyền thông có hiệu quả. Người gửi cũng cần phải – biết mình đang nhằm vào những người nhận tin nào? và họ đang mong muốn nhận được thông tin gì? Cần phải lựa chọn ngôn ngữ và mã hoá nội dung tin cho chủ thể một cách khéo léo. Chủ thể truyền thông cũng phải sáng tạo các thông điệp lựa chọn phương tiện truyền tin hữu hiệu, đồng thời tạo cơ chế để thu nhận thông tin phản hồi.

Từ mô hình trên cho thấy để thực hiện hoạt động truyền thông hiệu qủa các doanh nghiệp cần tuân thủ quá trình 6 bước. Hoạt động truyền thông thường được kế hoạch hoá theo các bước sau: xác định người nhận tin, xác định các phản ứng, xác định thông điệp, lựa chọn phương tiện truyền tin…

Vai trò của truyền thông marketing tích hợp (IMC):

Các công cụ cơ bản được sử dụng để đạt được mục tiêu truyền thông của tổ chức được gọi là phối thức chiêu thị/truyền thông (promotional – mix), đó là quảng cáo, khuyến mãi, marketing trực tiếp, PR và chào hàng cá nhân. Mỗi yếu tố có vai trò khác nhau trong quá trình IMC (Integrated Marketing Communications) và chúng cũng được thực hiện với hình thức khác nhau, mỗi yếu tố có mỗi ưu điểm và nhược điểm nhất định.

Một chương trình truyền thông marketing tích hợp (IMC) thành công đòi hỏi  doanh nghiệp biết cách kết hợp đúng đắn các kỹ thuật và công cụ truyền thông, xác định rõ vai trò và sự mở rộng các yếu tố này trong việc phối hợp sử dụng chúng. Để đạt được điều này, người chịu trách nhiệm về hoạt động truyền thông của các công ty phải hiểu rõ vai trò của truyền thông marketing trong một kế hoạch chung marketing.

Vai trò của truyền thông marketing tích hợp (IMC) thể hiện như sau:

– Là công cụ thực hiện chức năng truyền thông, đáp ứng nhu cầu khách hàng.

– Phối hợp với các công cụ khác trong marketing – mix để đạt mục tiêu  marketing.

– Là công cụ cạnh tranh trong kinh doanh: gia tăng giá trị sản phẩm, thông tin, xây dựng nhận thức về sản phẩm, nâng cao uy tín nhãn hiệu, duy trì niềm tin, thái độ tốt đẹp của công chúng về công ty…

IMC có thể:

– Thông tin về lợi thế sản phẩm.

– Thiết lập sự nhận thức và thái độ thuận lợi đối với sản phẩm, công ty.

– Tạo sự ưa thích nhãn hiệu.

– Tăng số lượng bán hiện tại.

– Củng cố hoạt động phân phối tại điểm bán lẻ.

– Đạt sự hợp tác từ các trung gian và lực lượng bán hàng.

– Động viên lực lượng bán hàng.

– Xây dựng hình ảnh tốt về công ty.

IMC không thể:

– Thuyết phục người tiêu dùng mua sản phẩm không phù hợp với nhu cầu.

– Làm cho khách hàng mua sản phẩm với mức giá cao hơn.

– Thuyết phục khách hàng tìm mua sản phẩm trong khi nó đang phân phối hạn chế.

3. Phân định nội dung cơ bản của phát triển truyền thông marketing  

3.1. Phân tích SWOT của doanh nghiệp viễn thông truyền thông

Phân tích SWOT trong doanh nghiệp viễn thông truyền thông sẽ giúp bạn  quyết định chiến lược truyền thông marketing. Chiến lược này sẽ giúp bạn có thể tận dụng các cơ hội sử dụng tất cả những điểm mạnh. Nó cũng sẽ giúp tránh các mối đe dọa và giảm thiểu những điểm yếu.

Điểm mạnh:

Điểm mạnh là những yếu tố đó sẽ giúp doanh nghiệp có được kết quả tốt hơn. Doanh nghiệp sẽ làm tốt nếu doanh nghiệp có thể căn cứ chiến lược của doanh nghiệp xung quanh những điều này. Sức mạnh là một yếu tố nội bộ. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp có thể kiểm soát nó. Những điều như tài nguyên, đầu tư và lao động lành nghề được coi là thế mạnh. Trong phân tích SWOT trong việc truyền thông marketing, doanh nghiệp sẽ xem xét những điều sau đây là thế mạnh của doanh nghiệp:

Nhận diện thương hiệu: Nếu doanh nghiệp được biết đến bởi những người sau đó nó có thể hoạt động như sức mạnh cho chiến lược tiếp thị của doanh nghiệp. doanh nghiệp có thể sử dụng tên và nhận dạng của nó để advertise sản phẩm để bán.

Vị trí của doanh nghiệp: Nếu doanh nghiệp nằm ở trung tâm thành phố sau, thuận tiện cho khách hàng của doanh nghiệp để có thể ghé thăm cửa hàng. Đây là thế mạnh lớn mà doanh nghiệp có thể có hơn đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp.

Chuyên gia về chuyên môn tiếp thị: Khi doanh nghiệp có một chuyên gia trong tiếp thị thì có thể phát triển một chiến lược tiếp thị khá dễ dàng. Doanh nghiệp sẽ có những kinh nghiệm cần thiết để hình thành các chiến lược dựa trên kinh nghiệm. Đây là một sự thúc đẩy lớn khi thực hiện một phân tích SWOT trong truyền thông marketing.

Giới thiệu một cái gì đó mới: Cách nào tốt hơn để nắm bắt thị trường hơn là cung cấp các sản phẩm mới hơn Nếu doanh nghiệp có thể đến với những ý tưởng mới, thì chiến lược tiếp thị sẽ được dựa trên sự sáng tạo và mới lạ.

Điểm yếu:

Những yếu kém cũng là những yếu tố bên trong sẽ làm hỏng doanh nghiệp tự tiến bộ. Khi làm một phân tích SWOT trong truyền thông marketing, doanh nghiệp cần phải xem xét mà điều này sẽ làm chiến lược tiếp thị của bạn trông yếu và thiếu thuyết phục. Các yếu tố sau đây có thể được gọi là điểm yếu:

Phân phối kém: Nếu doanh nghiệp có một kênh phân phối kém cho các sản phẩm thì doanh nghiệp có thể phải chịu. Nếu khách hàng không nhận được sản phẩm của doanh nghiệp vào thời gian hoặc ngay cả trên thị trường, thì đó là một trở ngại cho chiến lược tiếp thị của doanh nghiệp.

Không tính năng phân biệt: Doanh nghiệp không thể nổi bật trên thị trường nếu sản phẩm là không có khác nhau từ phần còn lại của các đối thủ cạnh tranh.

Thiếu sự hiện diện trực tuyến: Trong thời đại hiện đại, tiếp thị trực tuyến là một cách quan trọng để lấy sự chú ý của khách hàng. Nếu doanh nghiệp không phải làm mò trên mạng, sau đó doanh nghiệp không thể thành công tốt.

Cơ hội

Phân tích SWOT trong truyền thông marketing sẽ xem xét tất cả mọi thứ gần như là một cơ hội. Điều này là bởi vì doanh nghiệp không bao giờ biết những gì các sự kiện hoặc tình huống mà doanh nghiệp có thể sử dụng như một vũ khí tiếp thị. Những điều như:

Tiến bộ trong công nghệ – Nếu doanh nghiệp mua công nghệ mới hơn. Hoặc họ đi qua những cách mới để sản xuất hàng sau đó có thể được gọi như là một cơ hội. Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp để lập chiến lược trên một cách khác nhau.

Tăng nhu cầu – Một tình huống có thể phát sinh khi nhu cầu đối với hàng hóa của doanh nghiệp có thể tăng cả trong nước và quốc tế. Nếu điều đó xảy ra, thì doanh nghiệp cần phải nắm bắt cơ hội. Doanh nghiệp có thể advertise thực tế là tốt  doanh nghiệp đang muốn ra nước ngoài và do đó tạo ra một thương hiệu cho chính mình. Điều này là tiếp thị thông minh.

Sự kiện xã hội – Không có gì làm tăng nhu cầu đối với hàng hóa nhất định như các sự kiện xã hội. Mặt hàng quà tặng trở nên nóng trong nhu cầu trong dịp Giáng sinh. Pháo hoa được bán ra mỗi ngày phút trước đêm giao thừa năm mới. Vì vậy, khi một cơ hội như vậy được mở lên, các chiến lược tiếp thị nên được để tận dụng lợi thế đầy đủ của tình hình. Cung cấp những giảm giá và các quyền lợi khác để sản phẩm của doanh nghiệp được bán nhiều hơn.

Các mối đe dọa

Trong khi làm một phân tích SWOT trong truyền thông marketing, doanh nghiệp phải rất cẩn thận về những tình huống đó sẽ cản trở chiến lược tiếp thị của doanh nghiệp. Những tình huống này được gọi là mối đe dọa. Vì vậy, nó là tốt hơn để xác định chúng càng sớm càng tốt. Bằng cách đó các phân tích SWOT trong việc truyền thông marketing sẽ có một kế hoạch dự phòng để ngăn chặn các mối đe dọa. Các điều kiện sau đây có thể được coi là một mối đe dọa:

Giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh – Đây có phải là mối đe dọa khó khăn nhất để  đối phó với. Nếu đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp làm giảm giá sản phẩm của họ, sau đó có rất ít điều doanh nghiệp có thể làm gì về nó. Con người luôn luôn có khả năng cho đi những thứ mà ít tốn kém. Tuy nhiên, nếu phân tích SWOT của  doanh nghiệp trong tiếp thị đã ghi dấu ấn này, sau đó doanh nghiệp có thể có một kế hoạch dự phòng cho nó. Với chất lượng tốt hơn hoặc chương trình khuyến mãi có thể giúp đỡ.

Những thay đổi trong sự lựa chọn của người tiêu dùng – Nếu tất cả người tiêu dùng của doanh nghiệp của một đột ngột quyết định thay đổi sự lựa chọn của họ sau đó bạn có thể sẽ gặp rắc rối. Xu hướng luôn luôn thay đổi, và điều này sẽ trở thành một mối đe dọa nếu doanh nghiệp đang sản xuất c ng một loại hàng hóa hoặc dịch vụ.

Điều kiện kinh tế – Lạm phát, tỷ giá, thuế và như vậy là tất cả các yếu tố kinh tế. Nếu những điều này thay đổi quá thường xuyên, sau đó doanh nghiệp sẽ bị ảnh  hưởng một cách tiêu cực. Làm một phân tích SWOT trong việc truyền thông marketing sẽ yêu cầu bạn phải giữ cho mọi thứ như vậy trong tâm trí và đưa ra cách để tránh chúng.

3.2. Xác lập đối tượng, mục tiêu truyền thông marketing

Quá trình truyền thông Marketing GTGT khởi đầu bằng việc xác định rõ ràng đối tượng mục tiêu, họ có thể là khách hàng tiềm năng hoặc khách hàng hiện tại, họ có thể là người ra quyết định mua hoặc chỉ là người gây ảnh hưởng. Đối tượng mục tiêu có thể là một cá nhân, nhóm hay một tổ chức, nhóm công chúng nào đó. Việc xác định đối tượng mục tiêu ảnh hưởng mạnh đến các quyết định khác như: Thông điệp sẽ nói gì Nói khi nào? Ở đâu? Ai sẽ nói?

Sau khi xác định được đối tượng nhận tin, bước kế tiếp nhà Marketing phải xác định được mục tiêu truyền thông – đó chính là xác định các phản ứng mà doanh nghiệp muốn có ở đối tượng. Mục tiêu truyền thông thường gắn liền với mục tiêu Marketing và mục tiêu cuối c ng thường gắn liền với hành vi mua hàng. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, việc mua hàng là kết quả của một quá trình dài trong việc ra quyết định của người tiêu d ng. Khi truyền thông doanh nghiệp cần biết chính xác người tiêu d ng đang ở vị trí nào trong quá trình sẵn sàng mua của họ.

Doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động truyền thông phải xác định rõ người tiếp nhận thông tin của mình. Người nhận tin chính là khách hàng mục tiêu của  công ty, bao gồm khách hàng hiện tại hoặc tiềm năng, những người quyết định hoặc những người tác động đến việc mua hàng của công ty. Đối tượng nhận tin có thể là  từng cá nhân, những nhóm người, những giới cụ thể hay quảng đại công chúng. Công chúng mục tiêu sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến những quyết định của người truyền thông về chuyện nói gì, nói như thế nào, nói khi nào, nói ở đâu và nói với ai

Một phần quan trọng của việc phân tích công chúng là đánh giá hình ảnh hiện tại của công ty trong công chúng, hình ảnh của sản phẩm và của các đối thủ cạnh tranh trong họ. Thái độ của mọi người và hành động của họ đối với một sự vật là do niềm tin của họ về sự vật đó quyết định rất nhiều. Hình ảnh là một tập hợp những niềm tin, ý tưởng và ấn tượng của một người về một sự vật. Việc một tổ chức muốn cải thiện hình ảnh của mình phải hết sức kiên trì. Hình ảnh rất bền vững, nó vẫn tồn tại rất lâu sau khi tổ chức đó đã thay đổi. Sở dĩ hình ảnh bền vững là vì một khi người ta có một hình ảnh nhất định về một sự vật, họ tiếp tục nhận thức có chọn lọc các dữ kiện.

Một khi đã xác định được thị trường mục tiêu và những đặc điểm của nó thì truyền thông marketing phải quyết định về phản ứng đáp lại mong muốn của công  chúng. Tất nhiên phản ứng đáp lại cuối c ng là mua và hài lòng. Những hành vi mua hàng là kết quả cuối cùng của một quá trình rất dài để thông qua quyết định của người tiêu dùng. Người truyền thông marketing cần biết làm thế nào để đưa công chúng mục tiêu lên trạng thái sẵn sàng mua cao hơn.

Người làm marketing có thể tìm kiếm ở công chúng mục tiêu phản ứng đáp lại về nhận thức, về tình cảm hay về hành vi. Nghĩa là người làm marketing có thể muốn khắc sâu vào tâm lý người tiêu d ng hay thúc đẩy người tiêu d ng đến chỗ hành động. Và tuỳ theo từng trạng thái mà thực hiện hoạt động truyền thông cho thích hợp. Có sáu trạng thái khác nhau của khách hàng mục tiêu mà người thực hiện truyền thông cần biết, đó là:

Nhận biết ->  Hiểu -> Thích ->  Ưa chuộng -> Tin tưởng -> Mua

Nhận biết: Mức độ nhận biết về sản phẩm hay công ty tới mức độ nào? khách hàng mục tiêu còn biết thêm những gì? Từ đó hoạch định nhiệm vụ và chương trình truyền thông trong một khoảng thời gian nào đó tăng thêm sự nhận biết của khách hàng mục tiêu.

Hiểu biết: Khách hàng mục tiêu hiểu như thế nào về sản phẩm và công ty, số  người hiểu được chiếm đa số hay thiểu số trên thị trường mục tiêu? khách hàng mục  tiêu có những phân biệt đánh giá chi tiết thì họ càng hiểu về hàng hoá của công ty thì càng tốt.

Thiện cảm: Nếu khách hàng mục tiêu đã hiểu về hàng hoá của công ty thì họ cảm giác và suy nghĩ như thế nào?

Ưa chuộng: Khách hàng mục tiêu tuy có thiện cảm đối với sản phẩm của công ty, song chưa hẳn đã ưa chuộng nó so với những sản phẩm hàng hoá khác của các hãng cạnh tranh. Do đó người truyền thông phải cố gắng tạo lên sự ưa chuộng của khách hàng mục tiêu đối với sản phẩm của mình như nhấn mạnh các thuộc tính cạnh tranh có ưu thế mà sản phẩm của công ty đạt được như chất lượng, giá cả, tính tiện dụng… trong truyền thông

Ý định mua: Khách hàng mục tiêu đã ưa chuộng hàng hoá song ý định mua chưa hình thành. Cần phải tác động để tạo lên niềm tin phải mua hàng của họ, thúc đẩy họ sớm quyết định mua có thể bằng những lời khuyên, lời cổ vũ hoặc những lợi ích kinh tế…

Hành động mua: Tuy có ý định mua song để đi tới hành động mua còn bị  nhiều yếu tố chi phối. Cần nghiên cứu xác định rõ nguyên nhân để có giải pháp thoả đáng, giúp người mua có đủ điều kiện thực hiện ý định mua của mình.

Công việc của người truyền thông là xác định xem đa số người tiêu dùng đang ở mức độ nào để có chiến lược truyền thông thích hợp đưa họ đến mức độ có lợi hơn cho công ty.

3.3. Sáng tạo thông điệp truyền thông marketing

Lựa chọn và thiết kế thông điệp
Sau khi đã xác định được mong muốn của người nhận tin, người truyền thông giá trị gia tăng cần thiết kế một thông điệp có hiệu quả. Một cách lý tưởng, nội dung thông điệp phải đáp ứng cấu trúc AIDA nghĩa là tạo được sự chú ý (Attention); tạo sự quan tâm (Interest); tạo ra mong muốn (Desire); kích thích hành động (Action). Nói cách khác phải tạo được chú ý, tạo được sự thích thú,   khơi dậy được mong muốn, đạt tới hành động mua.Việc thiết kế một thông điệp cần phải giải quyết ba vấn đề:

Nội dung thông điệp: Người truyền thông phải hình dung được những điều sẽ nói với công chúng mục tiêu để tạo ra phản ứng đáp lại mong muốn. Nội dung thông điệp giá trị gia tăng cần phải ngắn gọn, xúc tích nhưng dễ hiểu, dễ nghe và nó   cần phải được nhấn mạnh vào các yếu tố có tính thành thực với người nhận tin như:

– Về kinh tế đề cập đến lợi ích kinh tế của người mua: Đây là vấn đề quan trọng và đầu tiên mà nội dung thông điệp vẫn phải đề cập. Trên thực tế xung quanh vấn đề này, có thể nói nhiều nội dung như chất lượng, tính tiện dụng, bảo quản… Song cuối cùng là nhấn mạnh đến hiệu quả kinh tế, tăng lợi ích người tiêu dùng, có thể như thế mới tạo ra sự chú ý của người mua và thúc đẩy họ đi đến quyết định mua sớm hơn.

– Đề cập tới yếu tố quyết định mua: trong từng đơn vị khách hàng có người quyết định và ảnh hưởng tới hành vi mua. Nội dung tin cần được truyền đạt tới các đối tượng trên. Cần khai thác chi tiết các yếu tố, khơi dậy tính quyền lực trong cá thể những người mua, thúc đẩy họ ra các quyết định đối với việc mua hàng.

– Về tình cảm đề cập tới lĩnh vực tình cảm: các trạng thái bình thường như vui buồn, hờn giận, sợ hãi… đều có thể được khai thác trong thông điệp truyền thông. Tuy nhiên hướng đề cập này chỉ đạt tới một mức độ nào đó trong một giới hạn thời gian nào đó vì rằng con người ta luôn thay đổi các trạng thái tình cảm và chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác.

– Về đạo đức đề cập tới vấn đề đạo đức, nhân bản: tạo ra tình cảm trong sáng và lương thiện trong khách hàng. Đề cao tính nhân đạo, ủng hộ các tiến bộ như làm sạch môi trường, tôn trọng và duy trì thuần phong và mỹ tục, tính đồng loại… nhờ đó mà tạo nên thiện cảm của người mua.

Cấu trúc thông điệp: phải logic và hợp lý nhằm tăng cường sự nhận thức và tính hấp dẫn về nội dung đối với người nhận tin. Khi xác định cấu trúc thông điệp người phát tin phải giải quyết ba vấn đề sau:

Một là, có nên đưa ra kết luận dứt khoát hay dành phần đó cho người nhận tin, thông thường kết luận được đưa ra trước đối với khách hàng sẽ hiệu quả hơn.

Hai là, trình bày lập luận một mặt “nên” hay cả hai mặt “nên” và “không nên”. Thông thường cách lập luận một mặt lại hiệu quả hơn so với việc phân tích cả hai mặt.

Ba là, nên đưa ra lập luận có sức thuyết phục ngay lúc mở đầu hay sau đó. Nếu trình bày lúc mở đầu sẽ thu hút sự chú ý nhưng khi kết thúc sự chú ý nguy hiểm hơn rất nhiều.

Hình thức thông điệp: thông điệp được đưa qua các phương tiện truyền thông để gửi tới người nhận tin, vì vậy thông điệp cần phải có những hình thức sinh   động. Trong một quảng cáo in ấn người truyền thông phải quyết định về tiêu đề, lời lẽ, minh hoạ và màu sắc. Để thu hút sự chú ý, thông điệp phải mang tính mới lạ, tương phản, hình ảnh và tiêu đề lôi cuốn, kích cỡ và vị trí đặc biệt… Nếu thông điệp qua radio thì quan trọng là từ ngữ và chất lượng đọc.

Tuy nhiên, thông điệp không phải là cấu trúc truyền thông cố định mà ngược lại, đó là cấu trúc biến đổi trong một mức độ nào đó, sự thay đổi này chỉ trong một phạm vi còn duy trì ý tưởng về thiết kế thông điệp của người phát tin. Còn người nhận tin tiếp nhận thông điệp tới mức nào còn phụ thuộc trình độ nhận thức của họ.

Vì vậy thông điệp có sự biến đổi so với thiết kế.

  • Chọn lọc những thuộc tính của nguồn tin

Hiệu quả của truyền thông GTGT không những phụ thuộc vào việc sáng tạo thông điệp, vào người nhận tin mà còn phụ thuộc vào tính chất của nguồn phát tin.
Nguồn tin có độ tin cậy cao sẽ tăng cường tính thuyết phục.
Có ba yếu tố làm tăng cường độ tin cậy của nguồn tin là: tính chuyên môn, sự tín nhiệm và tính khả ái.
– Tính chuyên môn: là mức độ chuyên môn mà bên truyền thông đạt tới, được xã hội thừa nhận để có thể thể hiện quan điểm của mình về lĩnh vực chuyên môn nào đó.
– Tính đáng tin cậy: liên quan đến việc nguồn phát tin được cảm nhận có uy tín mức độ nào trong xã hội, cộng đồng.
– Tính khả ái: mô tả mức mến mộ của công chúng đối với nguồn tin tới mức độ nào. Những phẩm chất như thật thà, hài hước và tự nhiên, khiến cho nguồn tin trở nên khả ái hơn.

3.4. Lựa chọn kênh truyền thông marketing

Người truyền thông GTGT phải lựa chọn những kênh truyền thông có hiệu quả để truyền tải thông điệp đó. Có hai loại kênh truyền thông lớn:

Kênh truyền thông trực tiếp: các kênh truyền thông trực tiếp đòi hỏi có hai hay nhiều người giao tiếp trực tiếp với nhau. Đó là sự giao tiếp giữa hai người với nhau, giữa một người với công chúng, qua điện thoại hay qua thư từ. Những loại kênh này có hiệu quả vì những người tham gia có khả năng phản hồi thông tin.

Trong các kênh truyền thông trực tiếp còn có thể phân ra nhiều loại riêng   biệt với những nội dung và phương thức tiến hành độc đáo. Đặc biệt là kênh đánh giá của các chuyên gia về dịch vụ. Do uy tín chuyên môn, khoa học hay uy tín xã hội cao, các chuyên gia dễ dàng thuyết phục khách hàng mục tiêu một cách nhanh chóng.

Kênh truyền truyền thông không trực tiếp: Đó là những kênh trong đó các phương tiện truyền phát tin không có sự tiếp xúc cá nhân và không có cơ chế để thu nhận ngay thông tin ngược chiều. Các phương tiện tác động đại chúng cần được quan tâm gồm có: những phương tiện tác động đại chúng có chọn lọc, khung cảnh môi trường vật chất, những biện pháp gắn liền với các sự kiện.

Các phương tiện truyền thông đại chúng và chọn lọc bao gồm những phương tiện trực tiếp như báo chí, tạp chí, thư từ, những phương tiện truyền thông điện tử (đài, ti vi, máy tính nối mạng…) cùng những phương tiện trưng bày (bảng hiệu, panô, áp phích…). Ngoài ra còn có những loại truyền thông chuyên hướng đến vào những đối tượng đặc biệt.

Bầu không khí là “môi trường chọn gói” tạo ra hay củng cố thiện cảm của người mua đối với việc mua sắm sản phẩm.

Sự kiện là những biện pháp tổ chức nhằm truyền đạt những thông điệp cụ thể cho công chúng mục tiêu.

Mặc dù truyền thông trực tiếp thường có hiệu quả hơn so với truyền thông đại chúng, các phương tiện truyền thông đại chúng vẫn có thể là những phương tiện chủ yếu kích thích truyền thông trực tiếp. Truyền thông đại chúng tác động đến thái độ, hành vi của cá nhân thông qua một quá trình truyền dòng thông tin hai cấp: người phát đến người hướng dẫn dư luận rồi đến bộ phận dân cư.

3.5. Xây dựng và triển khai kế hoạch chương trình truyền thông marketing

Để đảm bảo mục tiêu truyền thông marketing GTGT đạt hiệu quả cao, cần phải xây dựng kế hoạch chương trình truyền thông marketing một cách rõ ràng và cụ thể. Có như vậy, khi bắt đầu tiến hành các hoạt động tác nghiệp truyền thông marketing mới không bị chồng chéo và có thể tiến hành truyền thông marketing tích hợp chức năng.

Cụ thể nội dung của xây dựng kế hoạch truyền thông marketing này bao gồm:

– Quyết định tổng ngân sách truyền thông marketing, bao gồm các phương pháp sử dụng phổ biến: (1) Phương pháp trong khả năng chi trả, (2) Phương pháp tỷ lệ phần trăm doanh thu; (3) Phương pháp ngang bằng cạnh tranh và (4) Phương pháp mục tiêu – nhiệm vụ.
– Phân bổ ngân sách cho những công cụ chính để tạo thành phối thức truyền thông marketing  

Định hình phối thức truyền thông marketing, cần xem xét tới 4 nhân tố chủ yếu sau: (1) Dạng cặp sản phẩm – thị trường; (2) Cơ chế kéo – đẩy truyền thông marketing; (3) Các giai đoạn chu kì sống của sản phẩm và (4) Các giai đoạn sẵn sàng và chấp nhận của người mua.

Xác định phạm vi địa lý truyền thông marketing: Đối với truyền thông marketing truyền thống là địa điểm và khu vực mà chương trình truyền thông marketing diễn ra, tuy nhiên đối với truyền thông marketing trực tuyến thì gần như không có giới hạn về khoảng cách thời gian và không gian. Xác định vị trí địa lý truyền thông trên cơ sở sử dụng kênh truyền thông cá nhân hay kênh truyền thông phi cá nhân, t y từng tính chất của mỗi kênh và mục tiêu phát triển của thị trường mà xác định khu vực địa lý để tiến hành hoạt động truyền thông marketing.

Lập thời gian thực hiện truyền thông cụ thể: Việc lập thời gian truyền thông cụ thể để giúp cho doanh nghiệp có thể theo dõi và kiểm soát tiến độ công việc trong chương trình truyền thông marketing.

3.6. Đánh giá và kiểm soát truyền thông marketing

Sau khi thông điệp được truyền đi, người phát tin phải tiến hành nghiên cứu hiệu quả của nó đối với khách hàng mục tiêu có nhận được tin hay không, thấy nó bao nhiêu lần và nhớ được những nội dung gì Trạng thái độ của họ khi tiếp nhận thông tin đó, thái độ của họ đối với hàng hoá của công ty và sau khi công ty đã nhận được thông tin…

Để thu nhận thông tin phản hồi cần phải tổ chức điều tra nghiên cứu chu đáo. Cần phải tạo cơ chế thu nhận thích hợp để bảo đảm cho kênh truyền thông hoàn chỉnh. Thu nhận thông tin phản hồi đầy đủ và chính xác mới có thể đánh giá đúng mức hiệu quả của hoạt động truyền thông. Từ đó có các biện pháp điều chỉnh nhằm hướng hoạt động truyền thông vào các mục tiêu đã định và tăng cường hiệu quả của chúng.

Để đo lường hiệu quả truyền thông GTGT và doanh số do tác động của chiến dịch truyền thông marketing thì các nhà nghiên cứu dùng nhiều kỹ thuật để đo lường. Đánh giá hiệu quả truyền thông bằng khảo sát, nghiên cứu thị trường sau chiến dịch truyền thông giúp cho biết được mức độ tiếp nhận, những hiểu biết, ấn tượng qua thông điệp truyền thông và những hành vi dưới tác động của truyền thông marketing.

Một cách thông thường để đo lường nỗ lực là lượng chi tiêu, việc đo lường này khá đơn giản nếu ghi chép một cách đầy đủ các khoản chi phí. Một thuận lợi khi sử dụng đơn vị tiền tệ để đo lường nỗ lực là đồng tiền là một đơn vị đo lường chuẩn hóa có khả năng tổng hợp và nó giúp cho việc so sánh các mức độ nỗ lực giữa các thành phần truyền thông marketing khác nhau.

Nhược điểm chính của việc đo lường mức độ bằng tiền là trong thực tế một đồng chi cho lĩnh vực truyền thông marketing này không mua những tài nguyên cho thông tin giao tiếp bằng chi một đồng cho lĩnh vực truyền thông marketing khác. Những gì chúng ta thu được khi chi cho quảng cáo 100 triệu đồng sẽ khác với những gì chúng ta chi cho bán hàng trực tiếp 100 triệu đồng. Như chúng ta đã biết, các đặc trưng thông tin và thuyết phục của các thành phần truyền thông marketing   khá khác nhau. Ngân sách cho phương tiện gián tiếp là d ng để mua thời gian và không gian trong khi chi tiêu cho bán hàng trực tiếp là cho lao động hoặc nâng cao chất lượng của lao động. Do vậy mà đo lường nỗ lực bằng tiền có thể sẽ không đúng đắn vì tính không đồng nhất của các tài nguyên thông tin giao tiếp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *